Hiển thị các bài đăng có nhãn Cuộc vận động. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cuộc vận động. Hiển thị tất cả bài đăng

9 tháng 4, 2011

Câu Chuyện Cuối Tuần: Người Việt Tiêu Xài

Theo kết quả khảo sát tiêu dùng của tổ chức MasterCard World Wide thực hiện với 10.502 người ở 24 quốc gia và vùng lãnh thổ khu vực châu Á – Thái Bình Dương, châu Phi, Trung Đông thì, ưu tiên số một cho ăn chơi giải trí, Việt Nam dẫn đầu với 86%, Hàn Quốc 78%, Hồng Kông 75%.

Xe siêu sang vẫn xuất hiện trong lúc đời sống người lao động càng lao đao vì vật giá leo thang. Ảnh: Hồng Thái/SGTT.
Vấn đề tiêu dùng của người Việt đã trở thành một chủ đề tranh luận nóng bóng ở nhiều nơi, thậm chí báo Sài Gòn tiếp thị còn mở hẳn một diễn đàn về "Chi bạo trở thành lối ứng xử". Tuy nhiên, bài viết này chỉ xin những cóp nhặt những bài báo, bản tin đăng tải trên các báo, tạp chí thời gian qua xung quanh câu chuyện này. Người viết cũng xin nhường phần bình luận và đánh giá cho bạn đọc.

Bữa cơm xanh ngắt một màu

Theo báo VietNamNet ngày 10/3, trước tình cảnh những mặt hàng tăng giá đến chóng mặt, nhiều bà nội trợ và giới sinh viên đã phải chi li từng đồng để có được bữa cơm cho gia đình với đa phần là các món rau. Dẫn trường hợp gia đình anh Minh, công nhân ở xóm trọ Mễ Trì Thượng (Từ Liêm, Hà Nội), báo này cho biết, bữa cơm tối chỉ đơn giản đĩa đậu phụ sốt cà chua, su su luộc và bát canh.

Người duy nhất có thêm “khẩu phần ăn đặc biệt” một bát thịt nhỏ là cậu con trai của anh chị. Anh Minh cho biết, cả hai vợ chồng đều làm công nhân, tiền lương hàng tháng còn phải gửi về nuôi mẹ già ở quê. Anh chị đã hết sức tiết kiệm nhưng mỗi bữa vẫn phải có thêm tí thịt dành riêng cho cậu con trai cưng vì “cháu đang tuổi ăn tuổi lớn không thể con ăn uống thiếu chất được”.

Đó là cuộc sống của người công nhân đi làm và có tiền lương, còn với những sinh viên, đối tượng chưa làm ra tiền thì sự eo hẹp trong chi tiêu càng phải thắt chặt. Theo VietNamNet, nỗi lo nhất của sinh viên là giá phòng trọ tăng, rồi tiếp đó là giá điện. Hiện tại, giá thực phẩm tăng khiến cơm bình dân cũng tăng theo, sinh viên phải “dùng” mì tôm thay thế trong nhiều bữa ăn chính. Thế nhưng, cả mì gói gần đây cũng tăng giá.

Trong cơn "bão giá" mới, bữa ăn của nhiều sinh viên hầu như không có thịt cá mà chỉ toàn rau củ, đậu phụ với tô canh. Ra chợ bây giờ, nhiều bạn nữ sinh cứ tần ngần mỗi khi móc tiền ra trả hay “nhấc lên đặt xuống” cân nhắc thật kĩ trước một món hàng. Từ mớ rau con cá đến những mặt hàng phi thực phẩm cũng tăng từ vài nghìn đến vài chục nghìn đồng.

Theo aFamily ngày 23/3, các cô các chị bây giờ cầm tiền đi chợ thật khó khăn. Ngày trước với một bữa cơm tươm tất dành cho 4 người thì khoản tiền để chi rơi vào 60 đến 80 ngàn đồng. Bây giờ cùng với số tiền đó, các bà nội trợ chỉ biết thở dài và đắn đo. Giá cả tăng hằng ngày chứ không mang tính thời điểm nữa, nhẹ thì tăng 5 đến 10% cao thì đến tận 50%. Đáng lo hơn,giá cả không có dấu hiệu ngừng tăng hay giảm xuống.

Còn theo báo Nông nghiệp Việt Nam hôm 5/4, giá cả thực phẩm tăng nhanh chóng mặt. Người tiêu dùng bàng hoàng. Thậm chí, giá tăng nhanh đến mức nhiều chuyên gia kinh tế cho biết, họ cũng bị "choáng" vì không lường được giá cả lại diễn biến mạnh như vậy.

Hơn một tuần sau khi giá xăng tăng lên hơn 21 nghìn đồng/lít, giá thực phẩm ở miền Bắc đã tăng chóng mặt. Báo trên dẫn lời bà Chi, một cán bộ nghỉ hưu ở ngõ 351 Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai (Hà Nội), cho hay : "Đi chợ dịp này, cứ mỗi ngày một giá, chẳng biết đằng nào mà lần".

Mới cuối tuần trước, bà Chi còn mua thịt bò với giá 120.000 đồng/kg, nay đã lên 180.000 đồng/kg, thịt lợn mông sấn từ 85.000 đồng/kg, lên 110.000/kg. Rau củ quả cũng tăng chóng mặt. Chỉ riêng rau xanh cho mỗi bữa cơm 4 người cũng hết 15.000 đồng.

Còn theo tìm hiểu của báo Nông nghiệp Việt Nam, cá trôi loại vừa, mới thời gian ngoài Tết bán 40.000 đồng/kg, nay lên 80.000 đồng/kg; những loại cá to đều trên 100.000đồng/kg... Các loại thủy sản như tôm, cua, cá giá đều cao hơn từ 10-15%. Sau Tết, rau xanh không tăng giá, thậm chí còn giảm thì nay bắt đầu tăng tốc.

Chị Thanh, bán hàng rau ở ngõ 351 Lĩnh Nam cho biết: đi lấy hàng mỗi hôm một giá. Người trồng rau nói phân đạm tăng giá nên giá nhiều loại rau cũng phải tăng theo vì chi phí đã lên rồi. Rau mồng tơi 8.000 đồng/mớ; su hào giá 8.000 đồng/củ; cải thảo hiện ở mức 20.000 đồng/kg; khoai tây 20.000 – 22.000 đồng/kg; cải xoong 9.000 đồng/mớ…

Chợ sớm, cá ươn và thịt loại hai

Chính vì bài toán nan giải này, theo trang tin VTC News ngày 8/4, nhiều người đã chuyển sang đi chợ đầu mối lúc sáng sớm để mua được thực phẩm giá “bèo”. Điều này cũng khiến chủ sạp hàng cũng phải “thích nghi” với việc bán lẻ. Thậm chí, nhiều người bán cho rằng, lượng khách mua lẻ chẳng kém cạnh với người mua để buôn lại cho tiểu thương ở các chợ.

Báo này cho biết, trong thời gian gần đây khi nhiều người tiêu dùng nhất là các bà nội trợ tranh thủ chút thời gian buổi sáng, thậm chí khi trời còn chưa tỏ mặt người đã tìm đến chợ đầu mối để mua những thực phẩm với giá khá bèo, thì doanh thu bán lẻ chẳng hề kém cạnh so với bán buôn. Theo một số chủ sạp kinh doanh, bán buôn là chủ yếu nhưng bán lẻ cũng không hề thua kém, thậm chí những ngày cuối tuần, tỷ lệ này suýt soát 50-50.

Chính vì điều này, mà quan điểm chợ đầu mối chỉ bán buôn như trước đây hiện nay chỉ đúng một phần. Bởi, dạo qua một số chợ đầu mối như Ngã Tư Sở, Dịch Vọng, Long Biên trên địa bàn Hà Nội thay vì trao đổi hàng hóa ngay trên xe, giờ đây la liệt những quầy hàng nhỏ được người bán bày ra hai bên lối đi.

So với mức giá ở các chợ trong nội thành, thì giá mua lẻ ngay chợ đầu mối rẻ hơn vài giá. Ví dụ mực khô 150.000 đồng/kg nhưng khi đến tay tiểu thương có lúc lên hơn 200.000 đồng/kg. Thậm chí, có tiểu thương ra chợ đầu mối chọn đồ, phí vận chuyển chẳng đáng là bao nhiêu nhưng tâm lý nhìn mặt đặt giá khiến nhiều người bán không ngần ngại “hét” giá đến mức khó chấp nhận được.

Do hàng hóa ào ào tăng giá trong khi túi tiền có hạn buộc các bà nội trợ phải nghĩ ra đủ cách để có thể “sống chung” với giá cả mới. Theo báo Dân trí hôm 4/4, bên cạnh nhiều người tranh thủ đi chợ đầu mối vào sáng sớm để mua cho được thực phẩm giá rẻ, cũng không ít người lại chờ… chợ sắp vãn, khi người bán hạ giá dù hàng kém tươi hơn ngon hơn để mua hàng.

Dân trí dẫn lời chị Hoan, công nhân vệ sinh môi trường, cho biết từ hôm ra Tết, chị đã phải chọn những loại thực phẩm “kém tươi” mới lo nổi bữa ăn cho gia đình. “Về nhà tôi chịu khó ướp nhiều gia vị hơn để khử mùi. Trước đây, cả nhà phải ăn 5 con mới đủ bữa giờ phải giảm xuống bởi các chi phí như điện, ga, rau củ… đều tăng lên”, chị Hoan nói.

Chị Hoan cho biết thêm, các loại rau củ mua sát giờ… chợ nghỉ đều rẻ hơn. Chị chỉ vào túi rau của mình, khoe: “Rau cải 4.000 đồng /bó, giờ còn 2.500 đồng, dưa leo 14.000 đồng giờ mua còn 11.000 đồng… Kém ngon hơn nhưng lúc này mình chỉ mong mua được hàng rẻ”.

Tại hầu hết các chợ, vào càng sát giờ… nghỉ lại càng đông người đến mua các loại thực phẩm. Mọi người đều hy vọng lúc này mua được giá rẻ hơn. Báo Dân trí dẫn lời một trường hợp khác là cô Tiến, nhà ở đường Nguyễn Thái Sơn (P.5, Gò Vấp) cho hay, do không có điều kiện đi chợ đầu mối vào sáng sớm nên cô chọn đi chợ… chiều.

“Cả nửa tháng nay tôi đi chợ chiều mua thực phẩm ế mà còn khó cầm cự. Hàng chiều tất nhiên không tươi ngon nhưng cũng có hôm mua được hàng tốt mà giá phải chăng. Một ngày như vậy tôi cũng tiết kiệm được được khoảng chục nghìn”, cô Tiến nói.

Vợ chồng cô Tiến đều là viên chức nhà nước, thu nhập không tăng trong khi giá cả nhiều thứ đồng loạt tăng nên mọi chi tiêu đều phải cân nhắc kỹ lưỡng. Trong tháng 3 vừa rồi, chi tiêu trong gia đình đã “thâm” một khoản đáng kể nên cô lại càng “kỹ tĩnh” khi ra chợ.

Hàng ngày cô chỉ quanh quẩn với tiền thịt cá rau củ đến mức nhức cả đầu: “Hai cháu nhà tôi đều đang học đại học, sắp tới nghe nói học phí lại tăng, thiệt tình không biết lấy khoản nào để bù. Ăn uống còn có thể cắt giảm, xoay đây xoay đó chứ tiền học của con, xoay thế nào?”. Không chỉ thịt cá mà đến các loại rau củ loại 2, loại 3 cũng trở nên hút khách hơn khi giá cả tăng.

Theo công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Tổng cục Thống kê, tại Hà Nội trong tháng 3/2011 tăng 2,41% so với tháng trước, tăng 13,56% so với cùng kỳ năm trước. Đây cũng là mức tăng cao nhất của CPI Hà Nội trong hơn một năm trở lại đây, tính từ tháng 2/2010 khi CPI là 2,61%.

Xế xịn, mỹ phẩm xịn... hút khách

Tờ Tiền Phong hôm 5/4 phản ánh, trái ngược với tình cảnh nhiều gia đình lao động nghèo đang phải lao đao trong cơn bão giá, từng đồng tiền chi ra đều phải đắn đo, cân nhắc thì một bộ phận những người giàu có vẫn không tiếc tiền tiêu xài cho những món hàng xa xỉ, những dịch vụ đắt tiền…

Một hộp nước yến mạch giá gần 200.000 đồng, một hộp trà giá hơn 300.000 đồng… những mặt hàng thực phẩm nhập khẩu với giá thành “ngất ngưởng” như vậy được bày bán rất nhiều tại cửa hàng thực phẩm Ân Nam (đường Hai Bà Trưng, quận 1, Tp.HCM). Tiền Phong dẫn lời một nhân viên bán hàng tại đây cho biết, từ sau Tết trở lại đây, sức mua vẫn khá ổn định và không có nhiều biến động.

Tại một cửa hàng khác trên đường Lý Tự Trọng, quận 1, tất cả các loại bánh kẹo, thực phẩm bày bán ở đây đều được nhập khẩu từ các nước Âu Mỹ. Một thanh kẹo nhỏ có giá từ vài chục cho tới vài trăm nghìn đồng, rượu Vodka, Whisky… được bày bán đầy ắp trong cửa hàng.

Trong khi, ở các trung tâm mua sắm lớn như Diamond, Parkson, Vincom… các mặt hàng mỹ phẩm vẫn tiêu thụ khá mạnh. Tại quầy mỹ phẩm Channel ở Diamond, sau một hồi chọn lựa, một phụ nữ đã không ngần ngại mua 3 chai sơn móng tay với giá 630.000 đồng/chai. Thậm chí tại một thẩm mỹ viện trên đường Lê Quý Đôn (quận 1), chủ một doanh nghiệp ở quận Gò Vấp còn mạnh tay chi tới 14 triệu đồng để mua một chai sữa tắm có công dụng… chống lão hóa!

Tại siêu thị điện máy Chợ Lớn những ngày này, lượng khách tới mua sắm khá đông đúc và tấp nập. Một nhân viên bán hàng tại đây cho hay: “Máy lạnh, LCD, điện thoại… là những mặt hàng bán chạy nhất trong những ngày gần đây. Có những ngày, siêu thị lấy hàng về không kịp để bán cho khách”.

Sang hơn nữa là trường hợp của ông B. chủ một công ty sản xuất mỹ phẩm ở Bình Chánh. Đã có tới 4 - 5 chiếc xế hộp hạng sang, ông B. vẫn chi ra gần chục tỷ đồng để tậu về môt chiếc limousine. Ông cho hay: “Xe này không đi được trong thành phố vì dễ kẹt xe, nhưng tôi mua để khi nào đi công tác ở tỉnh nằm trên xe cho thoải mái”. Anh Đông - một đại gia ở quận Gò Vấp cũng vừa bỏ ra hơn 3 tỷ đồng để mua một chiếc BMW X5 tặng sinh nhật vợ!

Tại salon ôtô SaigonLimo (đường Phạm Văn Hai, quận Tân Bình), dù không phải là cao điểm mùa cưới, nhưng dịch vụ thuê xe limousine để rước dâu, đón khách vẫn khá đông khách. Được biết, giá của dịch vụ này là 600USD/lần 4 giờ đồng hồ (tương đương khoảng 12,6 triệu đồng). Ông chủ salon này cũng cho biết, cách đây 3 ngày, vừa bán được một chiếc mô tô Harley Davison giá 40.000 USD (tương đương 840 triệu đồng).

Trong một bản tin khác, cũng tờ Tiền Phong dẫn số liệu của Bộ Công Thương cho hay, ba tháng đầu năm, nhập siêu cả nước ở mức trên 3 tỷ USD, trong đó các mặt hàng xa xỉ chiếm tới gần 40%. Còn tính chung, giá trị của hàng xa xỉ và hàng thuộc diện cần kiểm soát nhập khẩu chiếm tới hơn 60% giá trị nhập siêu.

Trong số 6 nhóm mặt hàng thuộc diện cần kiểm soát, chỉ trong quý I các doanh nghiệp đã chi tới 46 triệu USD để nhập khẩu bánh kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc. Riêng các mặt hàng rau quả ngoại, đang xuất hiện ngày càng nhiều tại các siêu thị, đã cần tới lượng ngoại tệ lên tới 55 triệu USD. Nhập khẩu đá quý, kim loại quý cũng tăng khá mạnh, 363 triệu USD. Tổng số ngoại tệ các DN chi để nhập khẩu linh kiện phụ tùng ô tô dưới 9 chỗ và xe gắn máy xấp xỉ 1 tỷ USD.

Đáng chú ý, lượng ngoại tệ dùng để nhập khẩu các hàng thuộc diện xa xỉ cần hạn chế nhập khẩu trong 3 tháng đầu năm cũng lên tới 1,36 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm tới gần 40% giá trị nhập siêu của cả nước. Riêng lượng ngoại tệ dùng để nhập khẩu nhóm hàng tiêu dùng các loại lên tới 1,19 tỷ USD.

Đặc biệt, tổng lượng xe ô tô nguyên chiếc dưới 9 chỗ được các hãng, nhà phân phối nhập khẩu về trong 3 tháng đầu năm lên tới 11.125 chiếc, tăng 3.900 chiếc so với tháng 2. Trong khi đó cùng kỳ năm 2010, tổng lượng xe ô tô dưới 9 chỗ nhập vào nước ta chỉ ở mức 5.943 chiếc. Xe máy nguyên chiếc các loại nhập về trong thời gian này cũng lên tới 24.169 chiếc.

Phở một triệu đồng và sự lạc quan trong tiêu xài

Ở một góc nhìn khác, theo báo Đất Việt, tuy đang trong thời kỳ “bão giá” kèm theo những lo ngại về nhiễm phóng xạ Nhật Bản nhưng phở bò Kobe vẫn hút hồn nhiều thực khách. Vào những ngày nghỉ cuối tuần, tại khách sạn Vườn Thủ đô (Hà Nội), số lượng khách đặt bàn để thưởng thức món phở bò Kobe luôn đông nghẹt.

Theo đầu bếp Phạm Văn Sơn của Khách sạn vườn Thủ đô, giá mỗi tô phở đã tăng thêm 100.000 theo đà tăng giá của thị trường nhưng món ăn đặc biệt này vẫn rất hút khách. Hiện, giá mỗi bát phở bò Kobe có giá từ 40 đến 50 USD, gấp 40 lần giá của một bát phở tiêu chuẩn theo truyền thống tại các cửa hàng khác trên khắp Việt Nam.

Báo Đất Việt giải thích, sở dĩ phở bò Kobe có mức giá gấp nhiều lần các loại phở truyền thống là bởi nó được chế biến từ thịt bò Kobe. Đây là loại bò được nuôi ở thành phố Kobe, tỉnh Hyogo của Nhật Bản. Các chú bò này được nuôi dưỡng với quy trình cầu kỳ. Bò được cho ăn toàn những thức ăn bổ dưỡng như bắp non, lúa mạch, uống bia thay nước, được tắm nước nóng, nghe nhạc Mozart, Chopin để thư giãn. Ngày ngày, chúng được xoa bóp bằng rượu sake hảo hạng.

Chưa hết, công đoạn chế biến của món phở này cũng rất “khó tính”, từ chọn nhập thịt đến việc chế biến nước dùng. Đặc biệt, nước dùng món phở này được xem là bí quyết riêng làm nên thương hiệu phở bò Kobe của các mỗi nhà hàng, khách sạn. Do vậy, rất khó để người tiêu dùng có thể làm nên một bát phở Kobe thành công tại nhà dù cũng mua được thịt chính hiệu từ Nhật Bản.

Trong bài viết dưới tựa đề "Người Việt tiêu xài lạc quan nhất thế giới" đăng tải trên báo Sài Gòn tiếp thị hôm 24/2/2011, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hải cho biết, đầu năm nay, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho biết, người Việt Nam đã ăn tết Tân Mão vừa qua lớn chưa từng có. Chỉ tháng 1/2011, Ngân hàng Nhà nước đã phải cung cho các tổ chức tín dụng 132.000 tỷ đồng, phần lớn số tiền này chảy vào tiêu dùng trong dịp tết âm lịch.

Theo kết quả khảo sát tiêu dùng của tổ chức MasterCard World Wide thực hiện với 10.502 người ở 24 quốc gia và vùng lãnh thổ khu vực châu Á – Thái Bình Dương, châu Phi, Trung Đông thì, ưu tiên số một cho ăn chơi giải trí, Việt Nam dẫn đầu với 86%, Hàn Quốc 78%, Hồng Kông 75%. Tỷ lệ tiêu dùng một cách tuỳ nghi, không toan tính thì Việt Nam cũng dẫn đầu đến 62%, Australia và Hàn Quốc 59%.

Tác giả Ngọc Hải viết, những con số trên cho thấy ở nước ta, tiêu xài quá mức lao động tích luỹ bản thân cũng như tích luỹ toàn xã hội của nền kinh tế đang là một vấn đề bức xúc. Làm ra 1 đồng chi xài 2 đến 4 đồng, xài đồng tiền (dù do bản thân mình làm ra) mà không chú ý đến hoàn cảnh đất nước, xã hội, cộng đồng xung quanh. Những người có dịp sang thăm thân nhân ở Mỹ, Australia, Singapore đều ngạc nhiên về mức độ tiết kiệm của công dân các nước ấy.

Việt Nam tăng trưởng theo mẫu hình: đổ tiền ra đầu tư, sản xuất vô độ, huỷ hoại môi trường và phải đối đầu với nhiều thách thức. Báo chí từng đăng các câu chuyện cầu xây không ai đi, cảng không ai đến, sân bay không ai dùng, hàng đống biệt thự sang trọng bỏ không. Một mặt GDP cứ tăng, nhưng con người cứ phải đối đầu với các vấn đề xã hội khi thay đổi kinh tế, và sống không an toàn giữa các dịch vụ xã hội, y tế, giáo dục, giao thông và môi trường.

Sức mua, tiêu xài của người Việt tăng nhanh: thị trường bán lẻ ở nước ta đứng thứ tư, sau Ấn Độ, Nga, Trung Quốc và mỗi năm tăng 20%, đạt tới 53 tỉ USD vào năm 2010. Chả thế mà người Việt được đánh giá là tiêu xài lạc quan vào hạng nhất thế giới. Nếu kêu gọi tiết kiệm thì thế nào cũng có câu trả lời: nghèo không đủ sống, lấy đâu ra mà tiết kiệm.

Tác giả Ngọc Hải đặt câu hỏi, chi xài quá mức cái làm ra được phải chăng đang trở thành một đặc tính của người Việt? Tính chất cẩn trọng, hợp lý, khoa học của chi tiêu, một đặc điểm giúp người ta làm giàu (Buôn bán tàu bè không bằng ăn dè hà tiện – câu của các cụ xưa) bây giờ không mấy ai chịu học nữa?
Tác giả Sơn Hà - Báo VnEconomy

22 tháng 3, 2011

Người Dân Tộc Thích Dùng Hàng Việt Vì… "Nó Khỏe"

Chọn mua hàng Trung Quốc là một thói quen tiêu dùng của đại bộ phận người dân tộc thiểu số ở các xã giáp ranh biên giới thuộc nhiều tỉnh miền núi phía Bắc. Thói quen này xuất phát từ thuận lợi hàng Trung Quốc vừa nhiều, vừa rẻ lại vừa dễ mua.

Niềm vui khi sữa về tới bản (Ảnh: ChiLê/Vietnam+)
Tuy nhiên, sau một thời gian dài sử dụng và biết chất lượng hàng Trung Quốc kém hơn hàng Việt, nhiều bà con đã quay sang chọn hàng nội. Thành công này cũng là kết quả từ chiến dịch vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” khởi động từ quý III năm 2009 (thực hiện văn bản chỉ thị số 264-TB/TW của Bộ Chính trị).

Thích hàng Việt “vì nó khỏe”

Khảo sát tại một trong số các tỉnh miền núi có nhiều xã giáp biên giới là Lào Cai thấy hàng Việt thực sự đã lan tỏa và bám rễ khá chắc ở đây. Ghé chợ trung tâm Bát Xát, chợ Mường Hum… thuộc Bát Xát (huyện vùng cao có tới 98 km đường biên giới), hàng Việt đã chiếm lĩnh tới khoảng 80-90% thị phần các mặt hàng tiêu dùng.

“Mấy năm trước hàng Việt chỉ chiếm không quá 50% do người dân tộc thiểu số ở đây họ nghèo lắm, mà hàng Trung Quốc thì vừa nhiều vừa rẻ. Nhưng gần đây có chủ trương khuyến khích dùng hàng nội, hơn nữa bà con cũng nhận thấy dùng hàng Việt bền hơn, chất lượng hơn nên bây giờ bán hàng Việt cũng khá chạy.

Quầy hàng của tôi giờ có tới 90% các mặt hàng xuất xứ trong nước,” anh Tiến (quê ở xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định), một tiểu thương chuyên các mặt hàng nhu yếu phẩm ở chợ Bát Xát nói.

Cũng vì thế mà người miền xuôi đi buôn hàng trên miền ngược như anh Tiến không ít. Huyện miền núi có 10 xã giáp biên giới (trên tổng số 23 xã) này. “Có khoảng 200 hộ kinh doanh cá thể,” Trưởng phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Bát Xát Nguyễn Thanh Trình cho hay. Thế nhưng lại “vẫn chưa có doanh nghiệp đầu mối nào.”

Ghi nhận sự thay đổi tích cực trong nhận thức ấy của bà con dân tộc vùng cao, Trưởng ban Dân vận xã Bát Xát Vàng Seo Say phấn khởi cho biết: “Ví dụ như mua điện thoại, gia đình bà con dân tộc nào tương đối có điều kiện họ rất thích mua hàng Nokia của Việt Nam sản xuất vì nó khỏe và giữ được lâu hơn.

Hàng Trung Quốc tuy rẻ và đáp ứng được số đông nhưng hiện nay bà con cũng hướng tới hàng Việt. Ví dụ mua tivi thì thường mua cái của Việt Nam sản xuất. Họ rỉ tai nhau là mua hàng của Việt Nam tốt hơn.”

Để hàng Việt được tín nhiệm như vậy là do người dân đã phải kinh qua những trải nghiệm… đau thương khi dùng hàng của nước bạn láng giềng.

Chả là, “họ dùng hàng Trung Quốc một vài lần như nồi cơm điện, quạt, tivi..., mua về chạy rẹt rẹt một thời gian thấy nhanh hỏng quá thì cũng biết hàng Việt Nam có ưu điểm là bền, dù có đắt hơn khoảng 200.000-300.000 đồng mỗi chiếc. Hay như phân bón Trung Quốc thì cho bông chín to đều, đẹp nhưng tác hại làm cho đất ruộng bị cứng như có chất đá nên người dân quay về chọn phân Lâm Thao NPK…,” như anh Say nói.

Hiện nay, nhận thức này đã lan rộng ở tất cả các xã vùng cao biên giới rồi chứ không chỉ phổ biến ở những huyện trung tâm thành phố nữa.

Dần xa thời tự cung tự cấp

Từ bao đời nay, người dân tộc thiểu số có bản sắc sinh hoạt là tự cung tự cấp. Thế nhưng, nhiều năm gần đây, theo nếp sống mới cùng với đời sống dần được cải thiện nên nhận thức của bà con có nhiều thay đổi tích cực, cũng bắt đầu biết buôn bán nhộp nhịp hơn.

Như nhận xét của Trưởng phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Bát Xát Nguyễn Thanh Trình: “Như người phụ nữ Mông, Dao trước đây trồng lanh dệt thổ cẩm, may quần áo thì nay họ cũng xuống chợ mua vải đen về thêu. Với các mặt hàng thực phẩm, trước nuôi trồng được con gì, cây gì thì họ ăn chừng ấy hoặc trao đổi nhưng giờ họ cũng biết xuống chợ buôn bán đủ thứ. Tivi, điện thoại, quạt máy… cũng là những mặt hàng được bà con tiêu thụ trong thời gian gần đây.”

Quả đúng thế, lên tới chợ Mường Hum gần biên giới vẫn thấy các mặt hàng gia dụng thiết yếu xuất xứ trong nước như dầu ăn, bột giặt, nước mắm, mì chính, bánh kẹo… Cũng bởi như anh Say trần tình: “hàng Việt do được tuyên truyền tốt nên người dân bắt đầu dùng rất nhiều, chỉ có điều đừng có hàng nhái nhiều là người dân họ thích lắm!”

Những sản phẩm đan, thêu thủ công… đặc sắc, tinh tế và hấp dẫn người mua nhưng lại có hạn chế là giá thành cao. Đặc biệt là quần áo truyền thống dân tộc, có thể lên tới 4-7 triệu đồng/bộ. Chỉ tính riêng chiếc vạt sau bộ quần áo của người Dao mà chị Lở Mẩy (47 tuổi) bán ở chợ Bát Xát đã có giá 700.00 đồng. Vì không có công nghệ sản xuất đại trà, thành ra các mặt hàng ấy lại “kén” người mua.

Và để hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, ông Trình cho biết: “Cuối năm 2010 chúng tôi có tổ chức hội chợ ở Mường Hum với khoảng 40 gian hàng từ nông sản, may mặc đến điện tử…”

Song, ông Trình cũng nhận định một thực tế rằng: “Người dân tuy thích dùng hàng Việt nhưng với điều kiện đời sống còn nhiều khó khăn nên vẫn còn nhiều gia đình không có sự lựa chọn nào khác buộc phải mua hàng Trung Quốc rẻ tiền.”./.
Theo VietNam+

19 tháng 3, 2011

Giá Trị Niềm Tin Từ Bài Học Nước Nhật

Nước Nhật đang phải trải qua một trong những thảm họa tồi tệ nhất trong lịch sử, nhưng trong thời khắc khó khăn đó, người dân Nhật đã cho thế giới thấy được những phẩm chất cao đẹp và đáng học hỏi của dân tộc vốn nổi tiếng là quật cường này.

Trong nghịch cảnh, người dân bắt đầu hiểu thêm
về vị nguyên thủ của mình.
Từ hình ảnh những đoàn người xếp hàng dài một cách trật tự và kiên nhẫn trong giá rét để chờ mua thực phẩm hoặc nhận hàng cứu trợ đến em bé 9 tuổi cầm gói lương khô của một người cảnh sát tặng cho đem bỏ lại vào thùng hàng cứu trợ với lý lẽ hết sức đơn giản: “Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con, bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng chú ạ”. Không hề có cướp bóc, hôi của hay hoảng loạn, những hình ảnh vẫn thường thấy ở các cuộc thiên tai tương tự ở các nước khác. Thậm chí như trong bức thư của ông Hà Minh Thành gửi về từ Nhật được đăng trên các báo “vài chục triệu yên tiền giấy rơi ra đất mà không ai thèm nhặt”.

Trong tấm thảm kịch do hậu quả của một thiên tai tàn khốc, và trước nguy cơ của một thảm họa hạt nhân, mà nếu xảy ra có lẽ hậu quả của nó sẽ khủng khiếp gấp trăm lần những gì đang diễn ra, người dân Nhật vẫn bình tĩnh một cách đáng khâm phục “chính phủ nói họ đang kiểm soát tình hình, do đó chúng tôi không có lý do gì phải hoảng loạn cả”, trong khi đó, ở Việt Nam, cách nơi xảy ra thảm họa đến hơn 6000km, một số người dân lại đang hoang mang vì tin đồn về “mưa axit, mưa phóng xạ”!?

Có nhận xét rằng cơn thiên tai lịch sử này đã gây ra cho nước Nhật những thiệt hại vô cùng to lớn nhưng cũng đã đem lại cho họ một “quyền lực mềm”, thứ quyền lực không được xây dựng hay giành lấy bằng súng đạn hay tiền của mà bằng sự ngưỡng mộ và kính trọng của thế giới dành cho họ.

Từ những gì người Nhật đã thể hiện, chúng ta có thể học được điều gì? Theo tôi quan trọng nhất và cần thiết nhất cho chúng ta hiện nay là cách xây dựng niềm tin của họ. Nhân dân không hoảng loạn trước nguy cơ thảm họa hạt nhân vì họ tin vào khả năng kiểm soát và xử lý sự cố của chính phủ, cũng như tin vào tính trung thực của những thông tin về mức độ an toàn.

Họ không tranh giành vì họ tin vào sự công bằng của việc phân phát. Họ không hôi của vì họ tin rằng họ sẽ sớm khôi phục lại cuộc sống như trước kia bằng chính sức lao động của họ. Và trên tất cả, họ tin rằng những hành động có ý thức của họ sẽ được cộng đồng đáp trả bằng những hành động có ý thức, tất cả góp phần tạo nên một cộng đồng quy củ và kỷ luật.

Nhìn vào lịch sử, chúng ta không thể không cảm phục tinh thần dân tộc của người Nhật trong thời kỳ tái thiết đất nước sau chiến tranh hay còn gọi là giai đoạn “ thần kỳ Nhật Bản”, khi mà hàng nội được nhân dân ưu tiên sử dụng.

Chính tinh thần dân tộc đó đã tạo nên nhưng tập đoàn kinh tế hùng mạnh bậc nhất thế giới như Toyota, Sony, Honda,… Nhưng sự ủng hộ của người dân đối với hàng nội không phải là cực đoan và mù quáng mà được xây dựng và củng cố trên sự đáp trả về chất lượng sản phẩm và trách nhiệm đối với cộng đồng của các nhà sản xuất.

Ở nước ta, chúng ta cũng đang phát động phong trào “người Việt dùng hàng Việt”, nhưng thử hỏi có bao nhiêu nhà sản xuất đã tận dụng hết lợi thế sân nhà, chính sách khuyến khích, bảo hộ, thậm chí đặc quyền của nhà nước cũng như sự ủng hộ của người dân để phát triển, đưa thương hiệu Việt lên tầm vóc toàn cầu? Hay một số nhà sản xuất chỉ lợi dụng chính sách của nhà nước và niềm tin của nhân dân để thu lợi trước mắt, đến khi niềm tin của nhân dân mất đi thì lại đổ lỗi cho một nguyên nhân “xưa như trái đất”- cơ chế ?

Chỉ là một ví dụ cho thấy giá trị của niềm tin. Còn đó những vấn đề nhức nhối của xã hội mà người dân năm lần bảy lượt chứng kiến cảnh “hứa thật nhiều, thất hứa rồi cũng thật nhiều…” để rồi vẫn cứ mãi là “vấn đề mang tính thời sự”.

Xin đừng nói rằng người Việt Nam ý thức tập thể kém hay thiếu tinh thần dân tộc. Dân tộc Việt Nam không phải một dân tộc yếu hèn, trong chiến tranh chúng ta đã làm nên những kỳ tích khiến cả thế giới phải kính nể, đó cũng là nhờ có một niềm tin tất thắng mà cả dân tộc mới đoàn kết để tạo nên một sức mạnh như vậy.

Thế nhưng tại sao chúng ta không thể lặp lại những kỳ tích đó trong thời bình để xây dựng đất nước? Một lần nữa, vấn đề niềm tin được đặt ra và có lẽ còn nhiều điều chúng ta cần phải thay đổi để phát triển.
Tác giả Trần Công Nhật
(18/6 Huỳnh Văn Bánh, P. 15, Q. Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh).
Nguồn: Báo Dân trí

11 tháng 2, 2011

Nhường Sân Cho Hàng Ngoại

Ngay đầu năm 2011 doanh nghiệp đã đối mặt với chuyện không vui: lãi suất vay vốn vọt lên 20%/năm. Vay 1 tỉ đồng sau một năm trả lãi 200 triệu đồng. Kinh doanh gì để huề vốn đã là một bài toán khó, nói gì đến kinh doanh có lãi. Lãi suất vay vốn không chỉ mới tăng từ sau tết mà đã gây khó cho doanh nghiệp từ những tháng cuối năm 2010, đặc biệt tăng mạnh thời gian gần đây.


Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng khát khao mở rộng quy mô sản xuất, nhưng nghịch lý là ngày càng có nhiều doanh nghiệp thay vì đầu tư mở rộng thì lại đem vốn gửi ngân hàng để hưởng lãi suất cao. Ngoài lãi suất 14%/năm như quy định, ngân hàng còn rất nhiều ưu đãi khác cho những doanh nghiệp có nguồn tiền gửi với số lượng lớn. Ngược lại, có nhiều doanh nghiệp để duy trì hoạt động phải tìm mọi cách vay vốn ngân hàng với lãi suất vượt 20%/năm.

Mặt bằng lãi suất có lợi cho người gửi nhưng bất lợi cho người vay này đang đẩy các doanh nghiệp Việt Nam vào thế phải chịu sự cạnh tranh quyết liệt với hàng hóa nước ngoài ngay trên chính sân nhà. Rất nhiều doanh nghiệp được hỏi đều nói ráng “gồng” để chờ thời cơ mới hoặc để nuôi lao động chứ làm ăn gì được khi lãi suất ngân hàng đã “nuốt chửng” hết lợi nhuận. Trong khi đó hiện nay hệ thống ngân hàng vẫn lúng túng không biết làm sao để giảm lãi suất.

Để ý trong ba năm gần đây cứ đến quý 4 và đầu quý 1 là hàng hóa nước ngoài lại ồ ạt vào Việt Nam để tiêu thụ vào dịp Tết Nguyên đán. Lượng hàng này chủ yếu được các công ty thương mại nhập vào để tiêu thụ trong nước. Vì sao doanh nghiệp không sản xuất mà phải nhập hàng nước ngoài? Lý do là vì lãi suất cao, nếu vay vốn thì hàng hóa sản xuất không thể nào cạnh tranh được với hàng ngoại. Mặt khác, những năm gần đây các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ rất khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng vào thời điểm cuối năm vì thời điểm này ngân hàng thường ngưng cho vay vì đã đạt chỉ tiêu tăng tín dụng hoặc để ổn định thanh khoản.

Như vậy vô hình trung doanh nghiệp VN trở nên yếu thế trên chính sân nhà. Mà trên sân nhà đã không cạnh tranh được thì nói gì đến chuyện vươn ra thị trường thế giới. Nhìn xa hơn, doanh nghiệp tạm dừng đầu tư, sản xuất thì công ăn việc làm của nhiều người lao động sẽ đi về đâu và còn ảnh hưởng đến nhiều vấn đề xã hội khác. Việc kêu gọi người dân ý thức dùng hàng Việt là đúng, nhưng liệu với giá cả hàng Việt cao hơn hẳn (do phải vay vốn với lãi suất cao) thì người tiêu dùng có chấp nhận dùng hàng Việt hay không. Khảo sát nhiều vùng nông thôn toàn thấy hàng Trung Quốc vì giá rẻ hơn hẳn so với hàng Việt.

Rất nhiều câu hỏi được đặt ra mà mấu chốt để giải đáp đang nằm ở việc điều hành chính sách tiền tệ. Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước phải có những biện pháp kéo mạnh lãi suất xuống, trong đó không thể thiếu giải pháp tiếp thêm vốn từ Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước cũng nên điều tiết linh hoạt sao cho việc bơm tiền không những không tạo ra lạm phát mà còn thu hút được nguồn tiền, vàng, ngoại tệ hiện đang nằm ngoài hệ thống ngân hàng.

Song song với những giải pháp mang tính kinh tế, cũng cần thông báo rõ chủ trương của cơ quan điều hành về lộ trình giảm lãi suất sắp tới. Khi đó người gửi tiền sẽ không chờ đợi lãi suất cao hơn như hiện nay và doanh nghiệp cũng mạnh dạn tính toán làm ăn. Có thể nói rằng trong ba năm qua nhiều doanh nghiệp đã gồng gánh hết sức để duy trì hoạt động. Hiệp hội Doanh nghiệp trẻ cũng kêu gọi các doanh nghiệp thành viên duy trì công ăn việc làm cho người lao động. Tuy nhiên sức chịu đựng của doanh nghiệp và người tiêu dùng đều có hạn. Hiện các doanh nghiệp đang co cụm, nếu không có sự hỗ trợ mạnh và đúng thời điểm thì quá trình “gượng dậy” sau này sẽ khó đạt được hiệu quả như mong muốn.

ÁNH HỒNG ghi (Báo Tuổi trẻ)
VÕ QUỐC THẮNG
(chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam)

8 tháng 2, 2011

Vui Xuân Ngẫm Về Năng Suất Của Việt Nam

Xe container Hà Nội – Hải Phòng một ngày cố lắm được 2 chuyến. Ở Thái Lan, cũng cung đường như vậy họ chở được 8 chuyến. Năng suất của ta bằng ¼ của Thái Lan – Nguyễn Quang A.

Không cải thiện năng suất, hiệu quả thì các con số tăng trưởng có nghĩa chi. Ảnh minh họa

1. Mồng 4 Tết, ngày 6/2/2011, chúng tôi đi Thanh Hóa. Đường phố Hà Nội vẫn còn vắng và do xuất phát từ 6 giờ sáng nên xe ra khỏi thành phố khá thuận lợi. Đoạn cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ cũng dễ đi. Tuy nhiên, một tai nạn khủng khiếp xảy ra trước đó khoảng vài giờ ở phía đường đối diện làm hai người chết khiến chúng tôi rất buồn.

Mười một giờ trưa chúng tôi đến Thanh Hóa. Ở đó thăm viếng 3 tiếng, 2 giờ chiều chúng tôi quay về Hà Nội. Đoạn cao tốc Cầu Giẽ - Pháp Vân ùn tắc, nhiều xe vượt dải ngăn cách đi ngược chiều ở phía bên kia kiếm cách ra đường 1 cũ. Cảnh tượng thật lộn xộn. Bảy giờ cũng về tới nơi.

Quãng đường cả đi và về khoảng tròn 300 km, hết 10 giờ! Chúng tôi không nghỉ giữa đường, xe cũng tốt và những người khác cũng thế chứ đâu chỉ chúng tôi. Tốc độ trung bình 30 km/giờ! Không hiểu ngày thường thì sao?

Cách đây hàng chục năm đi Thanh Hóa hết khoảng 4 giờ. Một sự thụt lùi đáng kể?

Đường được mở rộng, được sửa sang đến đâu nhà mặt tiền mọc lên đến đó. Quốc lộ biến thành đường phố. Công an hạn chế tốc độ 40km/giờ khi qua khu dân cư. Phủ Lý, Ninh Bình nhà cao tầng đang xây san sát cạnh quốc lộ. Nạn tắc nghẽn nhất định xảy ra khi hàng ngàn hàng vạn người đến làm việc và ra về từ các nhà cao tầng đó. Có lẽ tốc độ di chuyển sẽ còn chậm nữa! Về mặt này, có sự tăng trưởng kinh tế, nhưng dường như không có sự phát triển.

2. Xe container Hà Nội – Hải Phòng một ngày cố lắm được 2 chuyến. Ở Thái Lan, cũng cung đường như vậy họ chở được 8 chuyến. Năng suất của ta bằng ¼ của Thái Lan.

Chẳng ở nơi nào trên thế giới có cách quy hoạch xây dựng kỳ quặc như ở Việt Nam. Ô nhiễm, nạn kẹt xe sẽ gia tăng và năng suất lao động (vận tải) sẽ giảm. Tốc độ trung bình 30 km/giờ, năng suất giao thông thấp hơn 3-4 lần các nước khác.

Tôi nhớ lại vài chục năm trước có đi thăm một nhà máy thép ở Nhật Bản. Họ nói chúng tôi đang bàn liên doanh với Gang thép Thái Nguyên, nơi mỗi năm sản xuất hơn 100 ngàn tấn với 10 ngàn công nhân. Nhà máy của họ có 1000 công nhân một năm sản xuất 1 triệu tấn. Chắc liên doanh đã không thành. Khi đó năng suất của ta bằng 1 phần trăm của họ (tức là lương sản phẩm của ta chắc chắn đắt hơn của họ rất nhiều)!

3. Năng suất lao động là cái quyết định tất cả. Không cải thiện năng suất, hiệu quả thì các con số tăng trưởng có nghĩa chi.

Từ người đứng đầu đến lãnh đạo các địa phương, từ doanh nghiệp đến người dân thường phải suy nghĩ và hành động để nâng cao năng suất nếu không muốn đất nước tụt hậu thêm nữa.
Nguyễn Quang A (Bee.net.vn)

13 tháng 11, 2010

Hưởng Ứng Vận Động Từ Bộ Chính Trị “Người Việt Ưu Tiên Dùng Hàng Việt”: Những Kết Quả Khả Quan

(ĐCSVN)-Theo đánh giá của Ban chỉ đạo Cuộc vận động, sau 1 năm triển khai thực hiện, Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đã thu được những kết quả bước đầu khả quan, tạo tiền đề vững chắc để triển khai Cuộc vận động trong thời gian tới.

Chất lượng hàng Việt Nam được chú trọng nhiều hơn.

Ủng hộ từ website: http//dunghangviet.vn

Theo thống kê cho thấy, trong nước, số doanh nghiệp có hàng Việt Nam chất lượng cao ngày càng tăng dần lên. Nếu năm 2008 có 485 doanh nghiệp được bầu chọn thì đến giữa năm 2010 số doanh nghiệp được bầu chọn lên đến 776 trong phạm vi cả nước. Thị hiếu người tiêu dùng đang có sự thay đổi đáng kể khi lựa chọn hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu. Hàng Việt Nam sản xuất trong nước ở nhiều ngành dần khẳng định được thương hiệu với lợi thế giá cả, chất lượng ổn định và mẫu mã tốt, tất nhiên còn nhiều mặt hàng về công nghệ thông tin, hàng cơ khí đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao, chính xác, mỹ phẩm cao cấp mang thương hiệu Việt Nam còn ít trên thị trường. Qua kết quả thăm dò của công ty tư vấn và nghiên cứu FTA Việt Nam cho thấy 71% người tiêu dùng (NTD) tin vào hàng Việt Nam – chất lượng cao. Qua nhiều tháng vận động số lượng chủng loại mặt hàng Việt Nam trong các siêu thị chiếm đến 70 – 80%. Triển vọng nếu cuộc vận động triển khai đúng hướng thì vị thế hàng Việt Nam sẽ có chổ đứng trong nước và trên thị trường thế Giới.

Từ những kết quả đã đạt được, cũng cho thấy thị trường nội địa Việt Nam đang khá hấp dẫn. Các doanh nghiệp nước ngoài coi đây là cơ hội kinh doanh lớn và đang chuẩn bị cho cuộc đổ bộ vào thị trường Việt Nam. Một trong những nhân tố chính khiến thị trường nội địa được coi là thị trường có nhiều tiềm năng, đó là cơ cấu dân số của Việt Nam. Hiện tại, Việt Nam với dân số trên 87 triệu người sống trong nước, trong đó khoảng 70% là dân số trẻ. Thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam hiện nay đã đạt trên mức 1000 USD/người/1 năm. Bên cạnh đó, sức mua của các tầng lớp dân cư liên tục tăng. Nếu năm 2005 là 7,1 triệu đồng, năm 2008 là 11,68 triệu đồng thì năm 2009 dù bị ảnh hưởng của suy thoái kinh tế nhưng vẫn đạt 12,5 triệu đồng/người/ năm. Theo dự báo, tỷ lệ tiêu dùng này sẽ tiếp tục tăng lên trong những năm tới. Chính sức mua của nhân dân được kích thích nên đã thúc đẩy thị trường nội địa hoạt động tích cực và sôi nổi, hiệu quả hơn.

Các doanh nghiệp đã hướng tới thị trường nông thôn...

Sau hơn 1 năm thực hiện cuộc vận động, thị trường nông thôn được nhìn nhận chính là nơi tiêu thụ hàng hóa lớn nhất. Bộ Công thương đã phối hợp cùng Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ Doanh nghiệp (BSA) chọn thị trường nông thôn làm điểm nhấn nhằm đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa. Theo Bộ Công thương, trong 6 tháng đầu năm 2010, đã có 68 đợt đưa hàng về nông thôn với 857 lượt doanh nghiệp tham gia, thu hút hơn 4,7 triệu lượt khách tham quan, mua sắm, tổng doanh thu bán hàng đạt gần 1.500 tỷ đồng .

Bên cạnh đó, cộng đồng doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam không thụ động mà đang từng bước thích ứng với tình hình mới. Các hành vi tiêu dùng cũng thay đổi: từ mua sắm hàng ngày ở các chợ truyền thống, kể cả “chợ cóc” chuyển sang mua sắm khối lượng lớn cho cả tuần tại các siêu thị, trung tâm mua sắm và qua mạng Internet. Đồng thời giá trị mua sắm ngày càng tăng, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sử dụng ngày càng nhiều, kể cả chăm sóc sắc đẹp cho cả phụ nữ và nam giới, dịch vụ du lịch, bảo hiểm, giáo dục…

Tầng lớp người tiêu dùng trẻ cũng như người tiêu dùng có thu nhập cao tăng lên, thúc đẩy hoạt động bán lẻ cao cấp. Điều đó cho thấy sự phát triển khá lạc quan của các DN bán lẻ Việt Nam.

Cả doanh nghiệp và người tiêu dùng đều thay đổi tích cực...

Một năm qua, cuộc vận động đã tạo điều kiện thuận lợi cho nền sản xuất trong nước, cho hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp đã ý thức được ý nghĩa của chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là một “cơ hội vàng” để nâng cao uy tín thương hiệu đối với người tiêu dùng, đem lại cơ hội sản xuất kinh doanh tại thị trường nội địa. Sản phẩm, hàng hoá hiện nay đã được cải thiện đáng kể về mẫu mã, chất lượng trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại, sản xuất theo các tiêu chuẩn quốc tế để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Vì thế, các doanh nghiệp cũng không ngừng thay đổi cách thức phân phối hàng hóa, triển khai nhiều hình thức phân phối mới phù hợp thị trường trong nước như kết hợp các phương thức phân phối hiện đại với phân phối truyền thống, triển khai nhiều đợt giảm giá, khuyến mại kích thích sức mua, từ đó từng bước thay đổi được hành vi của người tiêu dùng khi lựa chọn hàng Việt.

Qua cuộc vận động, ý thức của người tiêu dùng nước ta đã có những chuyển biến ban đầu, người tiêu dùng trong nước đã từng bước nhận thức đúng đắn hơn khả năng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam và chất lượng của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ Việt Nam. Do đó tâm lý sính ngoại của một bộ phận người tiêu dùng đã có sự thay đổi, phong cách tiêu dùng mới từng bước được xây dựng. Các chương trình đưa hàng Việt về nông thôn, khu công nghiệp, khu đô thị, chương trình khuyến mãi, hội chợ, triển lãm... đã giúp cho người tiêu dùng trên cả nước được tiếp cận trực tiếp với thương hiệu, doanh nghiệp Việt, có đủ thông tin để so sánh, đánh giá, tránh hàng giả, hàng nhái, hàng nhập lậu và tạo điều kiện cho hàng Việt phát triển. Theo kết quả điều tra gần đây của Công ty TV Plus thì sau gần 1 năm Bộ Chính trị phát động chương trình "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam", đã có trên 58% người tiêu dùng quan tâm đến hàng Việt , trong khi trước đây còn số này chỉ dừng ở mức khoảng trên 23% (theo thống kê của Tập đoàn Grêy - Mỹ).

Qua cuộc vận động các cơ quan quản lý nhà nước cũng có cách nhìn mới về tầm quan trọng của thị trường trong nước, từ đó có tiếng nói đồng thuận trong quá trình xây dựng và thực thi cơ chế, chính sách, từ việc kiểm soát hàng nhập khẩu, phát triển thị trường trong nước đến việc kiểm tra, kiểm soát thị trường để bảo vệ cho hàng hoá và thị trường nội địa./.

Kim Dung

11 tháng 11, 2010

Thương Hiệu Việt Trên Sân Nhà

Theo Bộ Công thương, doanh thu bán hàng Việt về nông thôn trong năm đầu thực hiện cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" đã đạt gần 1.500 tỷ đồng - một con số mang nhiều ý nghĩa. Song, theo nhiều chuyên gia kinh tế, thị trường nội địa vẫn chưa được các DN trong nước khai thác hiệu quả. Bên cạnh tình trạng hàng lậu, hàng giả xuất hiện trên thị trường, hệ thống pháp luật bảo vệ người tiêu dùng (NTD) hiện còn lỏng lẻo, dịch vụ hậu mãi của DN chưa tốt… khiến NTD trong nước dù đã biết đến hàng Việt nhưng vẫn chưa coi hàng Việt là "sự lựa chọn số 1"…

Người dân huyện Thường Tín hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Ảnh: Trần Việt

Hàng nội đang chiếm ưu thế

Năm 2009, trong bối cảnh kinh tế Việt Nam và toàn cầu gặp nhiều khó khăn, Bộ Chính trị đã phát động cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" nhằm phát huy ý chí tự cường dân tộc, xây dựng văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm.... Hưởng ứng cuộc vận động, Bộ Công thương với chức năng và nhiệm vụ của mình đã triển khai nhiều hoạt động như quảng bá "Thương hiệu Việt", tổ chức các cuộc thi "Tìm hiểu hàng hóa Việt"… nhằm tuyên truyền, quảng bá hàng Việt Nam và các thương hiệu uy tín. Bên cạnh việc đẩy mạnh xúc tiến thương mại tại thị trường trong nước, giám sát, tổ chức hàng trăm đợt đưa hàng Việt về nông thôn, Bộ Công thương đã chỉ đạo lực lượng quản lý thị trường phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước tại các tỉnh, thành phố giám sát hoạt động này, nhằm bảo đảm chất lượng hàng hóa cho các đợt bán hàng.

Theo đánh giá của Bộ Công thương, cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" đã tạo điều kiện thuận lợi để sản xuất trong nước phát triển, là cơ hội để DN nâng cao uy tín thương hiệu với NTD. Sau khi thực hiện cuộc vận động, nhiều DN đã cải thiện đáng kể về mẫu mã, chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng nhu cầu của NTD nhằm từng bước thay đổi hành vi tiêu dùng của người dân. Kết quả điều tra của ngành chức năng mới đây cho thấy, sau gần 1 năm thực hiện chương trình trên, đã có hơn 58% NTD trong nước quan tâm đến hàng Việt, trong khi con số này trước đây chỉ ở mức hơn 23%.

Người dân huyện Thạch Thất hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Ảnh: Trần Việt

Thống kê của Bộ Công thương cũng cho thấy, doanh thu của những đợt đưa hàng Việt về nông thôn do sở công thương các tỉnh, thành phố tổ chức lên tới gần 1.500 tỷ đồng. Riêng Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ DN đã tổ chức 53 đợt bán hàng về nông thôn với doanh thu đạt hơn 39 tỷ đồng... Những kết quả này cho thấy, thực hiện cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam", hàng Việt đang chiếm được ưu thế trên "sân nhà", mở ra cơ hội lớn cho các DN trong việc phát triển thị trường nội địa.

Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TƯ (CIEM), dân số nước ta hiện có hơn 87 triệu người, trong đó 70% là dân số trẻ. Thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam đã đạt hơn mức 1.000 USD/người/năm, với sức mua liên tục tăng qua các năm. Tổng cục Thống kê cho biết, tốc độ tăng tổng mức bán lẻ của Việt Nam những năm gần đây khá lớn, cụ thể năm 2008 tăng 31,8%, năm 2009 18,6% và năm 2010 ước tăng 22%. Tỷ lệ tiêu dùng so với GDP của Việt Nam cũng thuộc loại cao so với khu vực. Nếu như ở Singapore, tỷ lệ này là 55,9%, Thái Lan 67,7% thì ở Việt Nam là 70%.

Ba tiêu chí cho hàng Việt

Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, ngoài việc nỗ lực tiếp thị hàng Việt đến NTD, để chiếm lĩnh thị trường nội địa, còn nhiều việc mà Nhà nước, DN cần tiếp tục triển khai. Bởi trên thực tế, vẫn tồn tại nhiều vấn đề khiến NTD chưa thể coi hàng Việt là "sự lựa chọn số 1". Kết quả của nhóm nghiên cứu Hội Siêu thị Hà Nội thực hiện trong năm 2010 cho thấy, 93% NTD được hỏi cho biết có yêu cầu DN bảo hành khi mua hàng, nhưng 31% NTD được hỏi khẳng định DN không giải quyết khiếu nại của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ đã cung cấp. 45% NTD được hỏi cho biết, khi giải quyết khiếu nại của họ với hàng hóa, dịch vụ, DN tỏ ra khó chịu... Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật bảo vệ NTD còn lỏng lẻo khiến các DN chưa thực sự nghiêm túc trong việc bảo đảm quyền lợi cho NTD. Điều này đã khiến NTD chưa thật mặn mà tin tưởng vào hàng hóa của DN, nhất là các DN trong nước.

Người dân huyện Thường Tín hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Ảnh: Trần Việt

Để cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" đạt hiệu quả cao, nhiều chuyên gia cho rằng, cần có sự hưởng ứng đồng bộ từ các phía: Nhà nước, DN và NTD. Trước hết, các cơ quan nhà nước phải coi việc sử dụng hàng Việt là trách nhiệm, là nghĩa vụ. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần có cơ chế vận động các đơn vị tiêu dùng hàng nội địa trở thành những cơ quan tiên phong hưởng ứng cuộc vận động của Bộ Chính trị. Việc nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ NTD với chế tài xử phạt nghiêm minh cũng rất quan trọng nhằm giúp NTD được bảo vệ quyền lợi một cách chính đáng, qua đó giúp họ an tâm hơn khi sử dụng hàng nội địa. Các chuyên gia kinh tế cho rằng, 3 yếu tố quan trọng giúp hàng Việt chiếm được cảm tình của NTD là giá cả, chất lượng và dịch vụ hậu mãi. Nếu thực hiện tốt 3 tiêu chí này, hàng Việt Nam sẽ đẩy lùi thói "sính hàng ngoại" của người Việt Nam chiếm được vị trí xứng đáng tại thị trường nội địa.

Ông Lê Xuân Bá - Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TƯ: Ưu tiên dùng hàng Việt ngay trong cơ quan nhà nước

Để cuộc vận động thu được hiệu quả thiết thực, Nhà nước, DN và NTD phải cùng vào cuộc. Nhà nước cần sớm ban hành bộ luật bảo vệ NTD đủ mạnh, gương mẫu thực hiện ưu tiên mua hàng Việt trong cơ quan nhà nước và xử lý nghiêm hành vi kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng hay những trường hợp DN vi phạm quyền lợi của NTD. DN cần nỗ lực đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng hậu mãi và nên coi thị trường nội địa như một "sân chơi" thực sự, chứ không chỉ coi đây là phương án tạm thời trong bối cảnh kinh tế khủng hoảng. NTD nên chủ động phát huy quyền của mình thông qua việc tẩy chay nhãn hiệu có hành vi kinh doanh hàng kém chất lượng hay gây ô nhiễm môi trường…

Bà Nguyễn Thị Bích, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội: Cần sự trung thực từ nhà phân phối

Các siêu thị điện máy thường tổ chức những đợt khuyến mãi, giảm giá. Nhưng nếu NTD so sánh giá giữa các siêu thị mới biết, có sự chênh lệch giá khá lớn. Có siêu thị khuyến mãi sau khi đã nâng giá bán lên rất cao. Bên cạnh việc một số đơn vị lợi dụng khuyến mãi để thanh lý hàng tồn kho, dịch vụ hậu mãi của các siêu thị điện máy còn kém, hầu như khách hàng đều phải tự khắc phục lỗi kỹ thuật khi mua đồ hàng với lý do, lỗi nhỏ, phòng kỹ thuật của siêu thị không đủ nhân viên phục vụ.
Theo Hương Ly (Hà Nội Mới)

7 tháng 11, 2010

Người Việt Nông Thôn “Xài” Toàn Hàng… Trung Quốc

“Hàng Việt ư? Ở vùng nông thôn này tôi chẳng nhìn thấy bao giờ. Ngoài chợ, trong shop, các đại lý… đâu đâu cũng toàn hàng Trung Quốc”.

Đó là chia sẻ của chị Hà - một tiểu thương buôn bán quần áo ở xã Tiến Thịnh, huyện Mê Linh, Hà Nội với PV Dân trí trong phiên chợ Đầu Đê những ngày cuối tháng 9 (âm lịch)/2010.

“Mục sở thị” cuộc hành trình hàng Việt ở nông thôn, chúng tôi về những huyện được gọi là ven đô cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 30km.

hàng Việt về nông thôn
Nhiều địa phương tổ chức Hội chợ hàng Việt nhưng bán toàn đồ... Trung Quốc (ảnh: Trọng Huy)

Mê Linh - địa phương vốn là huyện giàu của tỉnh Vĩnh Phúc mới được sáp nhập về Hà Nội cách đây 2 năm, cũng thời điểm thông tin về cuộc vận động “Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt” cứ phát đi ra rả mỗi ngày.

Thế nhưng, đến thời điểm cuối năm 2010, khi mà nhiều cơ quan chức năng cho biết về kết quả lớn của cuộc vận động thì chúng tôi vẫn không khỏi giật mình khi khảo sát 1 số khu chợ, shop hàng may mặc, giày dép, đồ điện tử, điện lạnh dân dụng ở địa phương này và thấy… người nông thôn chỉ “xài” hàng Trung Quốc.

Tại một đại lý bán đủ các mặt hàng tiêu dùng ở thị trấn Quang Minh, huyện Mê Linh, hàng Trung Quốc rất nhiều, trong đó bao gồm cả đồ chơi dành cho trẻ em đến hàng thực phẩm chế biến, bánh kẹo… còn người dân thì ra vào mua bán rất đông.

Chị Hoa (chủ đại lý) cho hay: “Bây giờ người ta dùng hàng Trung Quốc như 1 thói quen, họ cũng nghĩ và sợ độc hại nhưng giá rẻ nên vẫn mua. Còn hàng Việt Nam, nhãn mác đăng ký một đằng nhưng chất lượng thực tế đôi khi không chuẩn, giá cũng cao hơn nên người ta so sánh giá rồi chọn mua hàng”.

Khi được hỏi về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt”, anh Hào (ở xã Tiền Phong, huyện Mê Linh) nói: “Tôi cũng nghe người ta nói nhiều trên ti vi về chuyện người Việt dùng hàng Việt, nhưng vấn đề là hàng Việt không có ở quê thì chúng tôi ưu tiên dùng như thế nào đây?”.

Khu chợ Tó - xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh có sức mua bán rất lớn. Tại đây, đồ chơi Trung Quốc bày bán công khai không tem hợp chuẩn; còn đồ điện, điện tử, điện lạnh trăm nghìn loại bày bán mà không biết loại nào có chất lượng, đó là chưa kể tới 1 số đại lý, doanh nghiệp Việt Nam lợi dụng cuộc vận động này để bán hàng quá "đát", hết hạn sử dụng đã khiến người dân mất lòng tin.

Theo tìm hiểu của PV Dân trí, phần lớn việc buôn bán trao đổi hàng hóa tiêu dùng ở địa bàn nông thôn do tư nhân điều tiết, chi phối cả về mặt hàng và giá cả. Vấn đề chủng loại, quy cách, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng sử dụng hàng hóa... thường không được chú trọng, trong khi đó cơ quan chức năng địa phương vẫn kiểm tra, kiểm soát (?!).

Tại huyện Gia Lâm, ngay trong Tháng Khuyến mại Hà Nội, Hội chợ hàng Việt đang diễn ra từ ngày 2 đến hết 12/11/2010, trên sân vận động thị trấn Trâu Qùy nhằm kích cầu tiêu dùng tại địa phương này. Tuy nhiên, theo phản ánh của rất nhiều người dân tới Dân trí, cả khu Hội chợ chỉ toàn là đồ Trung Quốc, ngoài ra có tới gần chục xới bạc đang hoạt động công khai dưới hình thức trò chơi chiếc nón kỳ diệu.

Bạn Phan Hà (SV trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội) tỏ ra bức xúc: “Mỗi lần vào Hội chợ chúng em phải mua vé 5.000 đồng, chúng em muốn dùng hàng Việt nhưng khi đi vào bên trong Hội chợ hàng Việt thì chỉ thấy toàn đồ Trung Quốc, đúng kiểu “treo đầu dê, bán thịt chó”…”.

Trao đổi với PV Dân trí, ông Nguyễn Hoàng Lưu - Chủ tịch Hiệp hội các tổ chức xúc tiến và phát triển kinh doanh Việt Nam cho biết: “Chuyện lẫn lộn thật giả giữa hàng Trung Quốc và hàng các nước trong Hội chợ hàng Việt là có thật, chúng tôi đã phát hiện trong các phiên chợ hàng Việt tổ chức ở các huyện ngoại thành của Hà Nội và tại các điểm mua sắm trong Tháng Khuyến mại năm 2009 ở nội thành Hà Nội chúng tôi cũng phát hiện có hàng Trung Quốc trà trộn vào hàng Việt.

Về việc này chúng tôi đã rút kinh nghiệm, Sở Công thương Hà Nội đã rút kinh nghiệm. Hiệp hội chúng tôi là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Hà Nội nên chúng tôi sẽ lên tiếng yêu cầu các đơn vị chức năng, đơn vị tổ chức phải xem xét và có trách nhiệm với nhu cầu tiêu dùng của người dân nông thôn”.

Có thể nói, người tiêu dùng nông thôn khá dễ tính và chắc chắn sẽ chuộng hàng Việt nếu các doanh nghiệp biết cách tiếp cận và bán hàng hóa đáp ứng được yêu cầu, phù hợp túi tiền của họ.
Theo Quỳnh Anh (Dân trí)

17 tháng 10, 2010

Người Tiêu Dùng Nông Thôn Đã Biết Đòi Hỏi

Đó là nhận định của bà Vũ Kim Hạnh, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) trong cuộc trao đổi với PV VnMedia, khi phiên chợ đầu tiên của chương trình Đưa hàng Việt về nông thôn giai đoạn 2 chính thức được khởi động.

hàng Việt về nông thôn
Những phiên chợ nông thôn đã thu hút được rất nhiều người tiêu dùng

- Xin bà cho biết, mục tiêu quan trọng của việc đưa hàng Việt về nông thôn là gì?

Theo tôi, mục tiêu quan trọng nhất của những chuyến đưa hàng Việt về nông thôn không phải là bán hàng, mà là tiếp cận với người tiêu dùng nông thôn để tìm hiểu tâm lý và hành vi nhu cầu, khả năng tiêu dùng của họ. Từ nghiên cứu đó, các nhà sản xuất sẽ cải tiến những sản phẩm và dịch vụ để những sản phẩm này có thể đứng lại lâu trên thị trường nông thôn.

Tôi nghĩ rằng, những phiên chợ về nông thôn đã tạo ra những cú hích khởi động, cho cuộc đi tìm hiểu về người tiêu dùng nông thôn một cách trực tiếp nhất. Sau đó, bản thân các doanh nghiệp sẽ thấu hiểu hơn khách hàng của mình và trở lại thị trường này với kết quả kinh doanh thành công hơn.

- Vậy theo bà, những doanh nghiệp đang có ý định đưa hàng Việt về nông thôn có cần nghiên cứu thị trường thế giới, cũng như thị trường của những thành phố lớn, để tạo nên một xu hướng tiêu dùng mới ở nông thôn không?

Có một thực tế là, khi đi sâu vào thị trường nông thôn chúng tôi thấy rằng, người tiêu dùng ở đây bắt đầu biết đòi hỏi những sản phẩm cao cấp hơn. Họ không chỉ quan tâm đến những hàng những thực phẩm như mì gói, dầu ăn, hay dầu gió, nước rửa chén… mà người ta cũng có nhu cầu đa dạng về hàng gia dụng như hàng nhựa, hàng nhôm, hàng cao su, hàng cơ khí, đầu đĩa, bếp gas…

Thông qua những chuyến đi này đã có khá nhiều doanh nghiệp nhận ra và bắt đầu chuyển biến cơ cấu về các ngành tham gia đưa hàng Việt về nông thôn. Việc chuyển biến cơ cấu này cho thấy rõ sự nhận thức của doanh nghiệp Việt Nam đối với nhu cầu đa dạng của người dân nông thôn. Lúc đầu là thực phẩm và các hàng hoá mỹ phẩm, kế đến là sự xuất hiện của hàng loạt các sản phẩm nhôm nhựa, cao su, cơ khí, điện tử. Hiện tại, thị trường nông thôn đã bắt đầu có những loại mỹ phẩm mang thương hiệu Việt xuất hiện.

Điều này cho ta thấy rằng, nhu cầu của người tiêu dùng nông thôn hết sức là đa dạng, thập chí khá là tinh tế. Do đó tôi nghĩ rằng các doanh nghiệp Việt Nam, cần hiểu rõ hơn và phải đi sâu vào những những trường phái tiêu dùng khác nhau, để tạo ra cơ hội lớn hơn cho doanh nghiệp mình.

- Trong quá trình nghiên cứu thị trường nông thôn, bà có so sánh gì giữa người tiêu dùng nông thôn của miền Bắc và miền Nam, vì sự khác biệt giữa các vùng miền cũng là một điều cần chú ý khi trong kinh doanh?

Theo tôi, nói chung người tiêu dùng của miền Bắc và miền Nam ở nông thôn đều quan tâm đến những mặt hàng có giá rẻ. Vì các sản phẩm có giá mềm hơn đang là yếu tố hàng đầu để người tiêu dùng ở nông thôn lựa chọn.

Tuy nhiên, theo nhận xét chủ quan của tôi, người dân nông thôn của miền Nam mua sắm nhanh hơn khi tiếp cận với thông tin về sản phẩm. Có thể nói là người tiêu dùng ở đây ít lựa chọn cân nhắc, tính toán quá lâu, có khi người ta mua xong nói “cứ dùng thử, nếu không được thì mình đổi cái khác cũng không sao”.

Còn đối với người miền Bắc, thì người ta thu thập thông tin nhiều hơn, hiểu rõ đặc tố trong các sản phẩm trôi nổi mà các phương tiện thông tin, đặc biệt là truyền hình đã cung cấp cho họ. Đồng thời, họ so sánh và đối chiếu cân nhắc rất là kỹ khi quyết định mua sản phẩm nào đó.

Đặc biệt, yếu tố văn hoá cũng có ảnh hưởng khá nhiều đến việc tiêu thụ sản phẩm. Điển hình, người miền Bắc thì quan tâm tới cái nền nếp, cuộc sống của gia đình lớn và những ngày giỗ chạp, hội họp trong gia đình hơn những người miền Nam.

- Vậy có nghĩa là tìm hiểu tâm lý người tiêu dùng nông thôn không chỉ nhìn vào túi tiền của họ có bao nhiêu, mà phải đi sâu vào tâm lý của từng vùng miền?

Tôi cho rằng đó là yếu tố rất quan trọng để giúp doanh nghiệp thành công, đặc biệt là những doanh nghiệp đang đưa hàng về thị trường nông thôn. Túi tiền của người tiêu dùng ở nông thôn tôi nghĩ có thể suy đoán được, vì chúng ta có thể tìm hiểu được CPI của từng vùng và dung lượng của thị trường cũng như toàn bộ mức sống của người tiêu dùng.

Nhưng bao nhiêu đó vẫn không đủ, nếu chỉ hiểu như thế thì chúng tôi nghĩ là còn khá hời hợt. Bởi vì với một số tiền như vậy, nhưng nhu cầu của người tiêu dùng nông thôn lại khá đa dạng, chưa kể là tác động của hệ thống truyền thông hiện nay đối với người tiêu dùng nông thôn.

Tôi nhớ có một chi tiết rất hay là, công ty nhôm Kim Hằng, khi họ đưa hàng ra miền Bắc tiêu thụ, điều mà công ty bị bất ngờ là mặt hàng mà họ bán chạy nhất lại là cái mâm. Người ta mua rất nhiều sản phẩm này để bày cỗ và thập chí có những người đi mua xong còn rủ cả những người hàng xóm đến mua. Kết thúc phiên chợ, công ty nhôm Kim Hằng đã bán được hàng trăm cái mâm.

Trong khi đó, ở miền Nam thì mặt hàng mà công ty nhôm Kim Hằng bán được nhất vẫn là những bộ chảo không dính, để người tiêu dùng chiên thực phẩm, vì theo họ khách hàng bây giờ nhiều khi người ta không dùng đến dầu, có thì chỉ là dùng rất ít do hiện nay có rất nhiều người ăn kiêng.

Vì vậy, tôi nghĩ rằng tâm lý của người tiêu dùng miền Nam và miền Bắc khác nhau khá nhiều và nó thể hiện qua cách chọn lựa sản phẩm của người tiêu dùng. Điều này cho thấy, doanh nghiệp nên nhìn vào xu hướng đó để đưa ra những sản phẩm phù hợp hơn cho khúc thị trường nông thôn.

- Xin cảm ơn bà!
Theo VnMedia

7 tháng 10, 2010

Đại Sứ Hàng Việt Quy Tụ Tại Khu Vườn 40 Tỷ Của Sỹ Hoàng

Các diễn viên, nghệ sĩ, nhạc sĩ, nhà ngoại giao là Đại sứ hàng Việt cùng chọn khu vườn 40 tỷ của nhà thiết kế Sỹ Hoàng với không gian tĩnh lặng đầy hoa và cây trái để bàn việc tuyên truyền, quảng bá và ủng hộ hàng Việt.

Trong không khí thân mật, ấm cúng tại ngôi nhà gỗ được thiết kế độc đáo, hôm 5/10, trao đổi với chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, các đại sứ hàng Việt cho rằng Chính phủ nên phát động nhiều chương trình cụ thể hỗ trợ sản phẩm nội địa.

Nghệ sĩ ưu tú Kim Xuân phát biểu, cuộc vận động "Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt" của Bộ Chính trị tuy là một tín hiệu tích cực nhưng lại quá chung chung, vẫn còn thiếu các chương trình ủng hộ hàng nội một cách cụ thể, sinh động để đi vào lòng người tiêu dùng.

Còn Nghệ sĩ ưu tú Tạ Minh Tâm đề xuất: "Việt Nam nên học Hàn Quốc đề ra nghị quyết, chiến lược ưu tiên thị phần cho hàng nội địa để kêu gọi nhân dân cả nước quan tâm ủng hộ".

đại sứ hàng Việt - NSƯT Kim Xuân
Nghệ sĩ ưu tú Kim Xuân, thành viên câu lạc bộ Đại sứ hàng Việt phát biểu tại buổi tọa đàm. Ảnh: Vũ Lê.

Theo nghệ sĩ Tạ Minh Tâm, ngoài tinh thần dân tộc, một số quốc gia xem việc tiêu thụ hàng nội địa là chính sách, thậm chí là luật (bất khả kháng), trong đó, người dân, doanh nghiệp và nhà nước cùng đồng lòng tham gia. Tuy nhiên, tại Việt Nam vẫn chưa thấy được những quy định liên quan đến hàng nội địa.

Đạo diễn Đoàn Khoa chia sẻ nỗi băn khoăn tại buổi tọa đàm: "Tôi rất buồn khi nghe tin nhiều hàng Trung Quốc đã khoác áo made in Việt Nam tung hoành tại thị trường nội địa. Nhà nước có chính sách gì ngăn chặn việc này không?".

Đồng cảm với đạo diễn Đoàn Khoa, nhiều đại sứ hàng Việt tỏ ra bức xúc khi nhắc đến số liệu của Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp BSA khảo sát tại tỉnh Trà Vinh. Cụ thể, tại địa bàn tỉnh này, 95% hàng dệt may có xuất xứ từ Trung Quốc. Trong đó, có 50% hàng dệt may tại Trà Vinh là hàng Trung Quốc gắn nhãn mác Việt Nam. Khảo sát cho thấy, toàn bộ nguyên phụ liệu ngành dệt may đều nhập của Trung Quốc nên khi trừ các chi phí, doanh nghiệp dệt may chỉ lời 5%. Đây cũng là lý do doanh nghiệp dệt may quy mô nhỏ chết lần mòn.

đại sứ hàng Viêt - Nhà ngoại giao Tôn Nữ Thị Ninh
Nhà ngoại giao Tôn Nữ Thị Ninh nói về hàng Việt. Ảnh: Vũ Lê.

Mang đến buổi tọa đàm một cái nhìn sắc lạnh và tỉnh táo, nhà ngoại giao Tôn Nữ Thị Ninh cho rằng, trong thời đại toàn cầu hóa, người Việt Nam không nên buồn khi thấy hàng ngoại xuất hiện tràn lan, vì đây là xu thế tất yếu. Theo bà Ninh, cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam là cuộc chiến lạnh lùng. Để đứng vững tại chiến trường này, bản thân doanh nghiệp cần nỗ lực tìm tòi và phát huy sức mạnh phòng vệ của hàng nội địa.

"Hàng Việt Nam vẫn có thể tấn công hàng ngoại để giành lại thị phần của mình ngay tại sân nhà. Đừng chuyển sức ép lên người tiêu dùng, vì muốn bán được hàng thì sản phẩm phải có chất lượng cao", bà Ninh nói.

Nhà ngoại giao này hiến kế, quốc tế thường sử dụng chiêu thử rượu, bỏ tất cả các nhãn mác, thương hiệu đi để người tiêu dùng bình chọn. Việt Nam vẫn có thể tổ chức các cuộc thử sản phẩm tương tự để khách hàng tiếp cận hàng nội địa.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhận xét, hiện nay Việt Nam vẫn chưa có những sách lược cụ thể để hỗ trợ và nâng bước cho hàng nội địa, ngoại trừ cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam của Bộ Chính trị. Chính vì thế, cuộc chiến giành lại thị phần của hàng Việt khá đơn điệu và không cân sức.

Bà Lan cho rằng, trong khuôn khổ hiệp hội, bản thân từng doanh nghiệp, ngành nghề cần bảo vệ thương hiệu và uy tín của mình bằng cách nâng cao chất lượng hàng hóa, tẩy chay hàng rởm. Tuy nhiên, ở tầm nhìn rộng hơn, Nhà nước cần phải chủ động trong tư thế người tiêu dùng hàng nội nhiệt tình và tỉnh táo nhất.

Vị chuyên gia kinh tế này lấy ví dụ, chi tiêu công nên tăng tỷ lệ thị phần cho hàng nội, tiết kiệm các khoản chi tiêu hàng ngoại. Ngoài ra, những chính trị gia, doanh nhân, nhà kinh tế cũng cần lăn xả vào cuộc chiến giành lại thị phần cho hàng nội địa bằng cách tuyên truyền và tìm hiểu những sản phẩm Việt Nam có chất lượng tốt để quảng bá cho người tiêu dùng.
Theo VnExpress

15 tháng 9, 2010

Người Tiêu Dùng Ngày Càng Gắn Bó Với Hàng Việt Nam

Trong suốt tuần lễ đầu của tháng 9.2010, với chủ đề “Sản phẩm mới – nỗ lực lớn của Doanh nghiệp HVNCLC vì người tiêu dùng”, Hội chợ (HC) hàng Việt Nam chất lượng cao (CLC) tại TP Đà Nẵng đã đón gần 300.000 lượt người đến tham quan và mua sắm, đồng thời đã để lại những ấn tượng sâu sắc với người tiêu dùng.

phiên chợ hàng Việt
Phiên chợ hàng Việt thu hút đông đảo khách hàng. Ảnh: T.L

Theo ghi nhận chúng tôi, trong thời gian qua, các doanh nghiệp tham gia đã mở 133 điểm phân phối, đại lý mới, 46 biên bản ghi nhớ và đã có 30 hợp đồng được ký kết trong thời gian 6 ngày diễn ra HC. Doanh số bán hàng trực tiếp của doanh nghiệp ngay tại Hội chợ là 27 tỷ đồng.

Trong đó, các DN có doanh số bán hàng cao trên gồm có: PNJ (530 triệu đồng), Đường Biên Hòa (510 triệu đồng), Bitis (451 triệu đồng), Cái Lân (450 triệu đồng), Traphaco (310 triệu đồng), Happy Cook (305 triệu đồng), Safoco (300 triệu đồng), Vina Giầy (285 triệu đồng), Phạm Nguyên (265 triệu đồng), SPM (230 triệu đồng), Hachiba (200 triệu đồng)...

Nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp quảng bá thương hiệu và đưa sản phẩm trực tiếp đến gần người tiêu dùng, tại phiên HC Đà Nẵng, Ban tổ chức cũng tiếp tục triển khai chương trình “Người tiêu dùng sành điệu” tại khu vực Ngôi nhà sản phẩm mới với các hoạt động: dùng thử sản phẩm miễn phí (sampling), các trò chơi hoạt náo sôi động.

Cũng trong khuôn khổ chương trình Xúc tiến thương mại thị trường trong nước của Bộ Công thương, Chương trình Hàng Việt về nông thôn do Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) phối hợp với Sở Công thương các địa phương tổ chức, đến nay đã mở được 48 phiên chợ tại 19 tỉnh thành trong cả nước; trao tặng 50 bộ nhận diện thương hiệu Hàng Việt về nông thôn cho các doanh nghiệp.

Trong đêm khai hội tại HC hàng Việt Nam CLC-Đà Nẵng 2010, Ban Tổ chức đã tiếp tục trao tặng 4 bộ thiết bị chuyên dùng cho 4 doanh nghiệp địa phương đã có nhiều nỗ lực trong việc đưa hàng Việt về nông thôn gồm Công ty TNHH Vico, Công ty TNHH SX TM BQ, Công ty TNHH Thực phẩm Minh Anh, Công ty CP TP và NGK Dona Newtower.

Tại hội trường Đại học Phan Chu Trinh, Quảng Nam đã diễn ra buổi giao lưu gặp gỡ chủ đề “Sinh viên và Niềm tin hàng Việt”. Diễn đàn lần này vinh dự được đón tiếp nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cùng 5 đại sứ hàng Việt: NSƯT Kim Xuân, nghệ sĩ Trung Dân, nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện, ca sĩ Nguyễn Phi Hùng và ca sĩ Hà Anh Tuấn.

Khoảng 800 lượt sinh viên các ngành của trường đã được tham gia một chương trình vừa “háo hức chờ đón” (bởi có nhiều vị khách mời các em mong muốn được gặp), vừa “vui”, vừa “học thêm nhiều điều”, vừa “khó quên” bởi... nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình nhấn mạnh: “Hàng Việt Nam quý nhất chính là con người Việt Nam” và nhắn nhủ: “Các cháu sinh viên hãy cố gắng để chính bản thân mình trở thành một sản phẩm Việt Nam chất lượng, mang lại lợi ích cho đất nước”.

Đoàn Đại sứ hàng Việt, Ban Tổ chức và các phóng viên báo đài cũng đã đến thăm một cơ sở làm đèn lồng truyền thống trên đường Trần Nhân Tông, phố cổ Hội An.

Qua chặng đường 10 năm, HC hàng Việt Nam CLC đã trở thành điểm hẹn hằng năm để công diễn các sản phẩm hàng Việt CLC, mỗi năm chương trình HCX lại có thêm những điểm mới như diễn đàn “Niềm tin hàng Việt”; chương trình “Người tiêu dùng sành điệu”, Đại sứ hàng Việt đồng hành cùng các hoạt động cổ súy người tiêu dùng trong nước ưu tiên chọn hàng Việt, các hoạt động văn hóa nghệ thuật cũng tăng tính hấp dẫn... HC hàng Việt Nam CLC đã trở thành thương hiệu được người tiêu dùng TP. Đà Nẵng và các khu vực lân cận tin cậy và háo hức chờ phiên chợ đến với mình mỗi năm.

Cần nói thêm, bên cạnh HC hàng Việt Nam CLC tại TP Đà Nẵng năm nay các chợ hàng Việt dành cho công nhân ở KCN Hòa Khánh và Điện Nam, Điện Ngọc, KCN Dung Quất đã diễn ra trong thời tiết khá thuận lợi và thu hút khá đông công nhân đến tham quan, mua sắm. Đến với phiên chợ công nhân lần này, công nhân khu vực miền Trung đã có cơ hội sở hữu nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu: quần áo, giày dép thời trang, thực phẩm, hóa mỹ phẩm, đồ dùng nhà bếp, dược phẩm, đồ điện tử... với những ưu đãi đặc biệt như giảm giá từ 10% đến 50%, quà tặng kèm sản phẩm, rút thăm trúng thưởng... và được tham gia gameshow “Đồng hành cùng hàng Việt” và nhận quà tặng. Ban tổ chức cùng với các nhà tài trợ cũng đã trao 20 phần quà cho các công nhân có hoàn cảnh khó khăn tại Đà Nẵng và Quảng Nam.

Người Việt dùng thuốc Việt

Cùng với việc vận động Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam, Chính phủ vừa yêu cầu Bộ Y tế triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý.

Tiếp tục phát triển mô hình hợp tác công - tư trong lĩnh vực đánh giá tương đương sinh học, sinh khả dụng của thuốc để có cơ sở khẳng định chất lượng thuốc sản xuất trong nước, tạo điều kiện thúc đẩy cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”.

Bộ Y tế nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ các hình thức hợp tác công - tư để đẩy mạnh công tác đánh giá tương đương sinh học, sinh khả dụng của thuốc.

Chính phủ yêu cầu Bộ Y tế ngay trong quý 4-2010 phải báo cáo Chính phủ các đề án về đấu thầu thuốc quốc gia và đặt hàng mua thuốc công do Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả, trước mắt áp dụng thí điểm đối với một số mặt hàng thuốc có tỷ lệ sử dụng cao trong điều trị. Trình đề án giải pháp quản lý giá thuốc theo quy luật cung cầu của nền kinh tế thị trường.
Theo Văn hóa Online

14 tháng 9, 2010

Tiếp Tục Thúc Đẩy Thị Trường Nội Địa

Đến nay cuộc vận động (CVĐ) "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" do Bộ Chính trị phát động đã đạt kết quả thiết thực nhiều mặt trên địa bàn Thủ đô. Rõ nét nhất là các doanh nghiệp (DN) đã chú trọng sản xuất, tiêu thụ hàng có chất lượng phục vụ thị trường nội địa, người tiêu dùng quan tâm đến hàng nội nhiều hơn.

thúc đẩy thị trường nội địa
Khách hàng lựa chọn các sản phẩm bánh kẹo Việt Nam được bày bán tại Hapro.
Ảnh: Linh Tâm

Nhiều hoạt động phong phú, thiết thực

Theo Ban Chỉ đạo CVĐ "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" TP Hà Nội, CVĐ đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đơn vị và DN hưởng ứng tích cực với việc khẩn trương triển khai nhiều biện pháp để chủ trương của Bộ Chính trị sớm đi vào cuộc sống. Các cơ quan thông tấn báo chí có nhiều hình thức tuyên truyền sinh động, vận động nhân dân Thủ đô hưởng ứng.

Thực hiện sự chỉ đạo của TP, Sở Công thương đã ban hành Kế hoạch 150/KH-SCT về tổ chức phiên chợ hàng Việt tại các huyện, thị xã; đồng thời tổ chức 7 "Phiên chợ hàng Việt" tại các huyện Đông Anh, Từ Liêm, Sóc Sơn, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai. Sở sẽ tiếp tục triển khai chương trình này trong suốt năm 2010, tập trung vào các ngày lễ lớn như Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Tết Trung thu, Tết Dương lịch... Khâu xúc tiến thương mại được đẩy mạnh thông qua việc tổ chức các DN tham dự hội chợ ở TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Thanh Hóa nhằm giới thiệu hàng hóa, sản phẩm. TP liên tục tổ chức các đợt bán hàng bình ổn giá, kích cầu du lịch để thu hút du khách đến Hà Nội. Tháng khuyến mãi năm nay với chủ đề "Tưng bừng khuyến mãi - rộn ràng mua sắm" sẽ được tổ chức, dự kiến có 500 DN tham gia với hơn 1.000 điểm bán hàng giảm giá, khuyến mãi.

Các DN, đơn vị đã có nhiều hoạt động thiết thực. Tổng Công ty Thương mại Hà Nội (Hapro) tăng cường tỷ trọng hàng hóa có nguồn gốc nội địa, chiếm khoảng 80% cơ cấu hàng hóa kinh doanh trong toàn hệ thống. Tổng Công ty đã triển khai hơn 30 chuyến bán hàng lưu động tại các huyện Sóc Sơn, Từ Liêm, Đông Anh, Phú Xuyên, Quốc Oai, Phúc Thọ. Thành đoàn Hà Nội tổ chức festival "Sáng tạo trẻ" Thủ đô từ cơ sở đến TP, phối hợp với 40 DN thuộc Câu lạc bộ Hàng Việt Nam chất lượng cao tổ chức bán hàng tại 6 khu công nghiệp, khu chế xuất với mức giảm giá 10-50%. Hội Liên hiệp Phụ nữ phối hợp với Sở Công thương, Trung tâm Xúc tiến thương mại Hà Nội tổ chức hội chợ "Kích cầu hàng hóa vì quyền lợi người tiêu dùng" tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Giảng Võ, thu hút hơn 300 DN tham gia với 474 gian hàng. Quận Long Biên tổ chức Hội chợ Xuân tại chợ Việt Hưng, thu hút 80 DN với 120 gian hàng; tổ chức 2 đợt bán hàng giảm giá tại các phường Sài Đồng, Đức Giang, Ngọc Lâm. Quận Hai Bà Trưng phối hợp với Ban tổ chức Festival "Sáng tạo trẻ" tổ chức gian hàng "Giới thiệu DN và trưng bày sản phẩm hàng Việt Nam"...

Bên cạnh đó, lực lượng quản lý thị trường phối hợp với các ngành chức năng tăng cường kiểm tra, kiểm soát giá cả thị trường, phát hiện 3.478 vụ, xử lý 3.157 vụ sai phạm, trong đó xử lý 182 trường hợp vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và làm hàng giả, hàng nhái...


Tôn vinh DN có sản phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng

Trong bối cảnh nền kinh tế đất nước hội nhập ngày càng sâu, người tiêu dùng trong nước có quyền lựa chọn, đòi hỏi cao hơn ở DN. Điều quan trọng nhất để chinh phục người tiêu dùng trên thị trường nội địa là DN phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu đa dạng và ngày càng cao của người tiêu dùng.

Ban Chỉ đạo TP yêu cầu Sở Công thương phối hợp cùng các ngành, tổng công ty, đơn vị... có kế hoạch cụ thể về hoạt động xúc tiến thương mại, đưa hàng về nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng, buôn lậu, gian lận thương mại để kích thích và tăng cường tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước. Sở Công thương phối hợp với Sở Tư pháp và các sở, ngành liên quan rà soát, cụ thể hóa cơ chế, chính sách nhằm bảo vệ, hỗ trợ người tiêu dùng và DN sản xuất, kinh doanh; triển khai đề án nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm; tăng cường tuyên truyền gắn với Tháng khuyến mãi Hà Nội. Đặc biệt thành phố sẽ tổ chức chương trình tôn vinh DN có sản phẩm tốt được người tiêu dùng Thủ đô ưa chuộng.

Theo bà Đặng Thị Huyền Thái, Phó Trưởng ban Chỉ đạo CVĐ TP Hà Nội, việc tôn vinh các DN có sản phẩm tốt được người tiêu dùng Thủ đô ưa chuộng không chỉ góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của DN với người tiêu dùng mà còn tạo điều kiện giúp DN mở rộng thị trường nội địa, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, từ đó động viên DN tích cực ứng dụng khoa học công nghệ mới, đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo ra sản phẩm, hàng hóa dịch vụ chất lượng tốt, giá thành hợp lý.
Theo HNMới

6 tháng 9, 2010

Doanh Nghiệp Hợp Tác Quảng Bá Hàng Việt

Gần đây, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã cùng bắt tay nhau trong các kỳ hội chợ để quảng bá chung cho thương hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng cao”. Họ tự tập hợp lại, lên kế hoạch cho một chương trình marketing chung, tự góp vốn, tự phân công nhiệm vụ và chạy chương trình.

Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao
Các game show tại hội chợ HVNCLC hấp dẫn người tiêu dùng Đà Nẵng.

Chuỗi hội chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao (HVNCLC) 2010 vừa có thêm một hoạt động marketing: liveshow giới thiệu sản phẩm mới của các doanh nghiệp với tên gọi “Người tiêu dùng sành điệu”. Đây là sáng kiến của một số doanh nghiệp Việt Nam thuộc lĩnh vực thực phẩm và hàng tiêu dùng như Bidrico, Kim Hằng, Kềm Nghĩa, Vĩnh Thuận, Liên Thành...

Đông tay thì vỗ nên kêu…

Trong chương trình này, mỗi đêm, tại ngôi nhà chung trưng bày sản phẩm mới, các doanh nghiệp tổ chức cho dùng thử khép kín các sản phẩm của mình: bánh khọt từ bột Vĩnh Thuận được đổ trên khuôn bánh chống dính của nhôm Kim Hằng, nấu trên bếp Mekong, rồi đem chấm bánh với nước mắm Liên Thành, hay lẩu riêu cua, lẩu kim chi của S.G Fisco dùng chung với mì Miliket, tráng miệng bằng trà thảo dược Tam Thanh, rửa tay với gel diệt khuẩn của S.G Fisco… Tham gia chương trình, người tiêu dùng còn có thể tự tay chế biến các món ăn để cảm nhận rõ hơn về các sản phẩm mới được trình diễn.

Do quy tụ được khá đông doanh nghiệp cùng nhiều mặt hàng tham gia nên chương trình mỗi tối đều thu hút hàng ngàn lượt khách. Đặc biệt, tại hội chợ HVNCLC Đà Nẵng vừa kết thúc đêm qua (5.9.2010), liveshow sản phẩm mới đã tạo được bất ngờ cho các doanh nghiệp khi người dân miền Trung rất nhiệt tình hưởng ứng.

Ông Văn Minh Thắng, đại diện ban tổ chức hội chợ HVNCLC tại Đà Nẵng, cho biết: “Các doanh nghiệp tham gia rất chủ động, họ tự bầu ra ai là thủ quỹ, ai lo tập hợp doanh nghiệp, anh nào làm hoạt náo… Ngoài mục đích quảng bá cho sản phẩm của mình thì các doanh nghiệp đều mặc định mình phải quảng bá chung cho thương hiệu HVNCLC”.

Bên cạnh, hoạt động của câu lạc bộ Đại sứ hàng Việt, chương trình trực tiếp truyền hình “Niềm tin hàng Việt” trên đài PTTH Đà Nẵng, đi thăm đột xuất người yêu hàng Việt tại phố cổ Hội An… các doanh nghiệp cũng hăng hái tham gia. Ông Phan Hải, phó chủ tịch hiệp hội Doanh nghiệp trẻ TP Đà Nẵng, cho biết: 45 thành viên của hội Doanh nghiệp trẻ TP Đà Nẵng đã có ký kết sử dụng sản phẩm của nhau như công ty Bình Vinh, giày BQ, gạch Thạch Bàn, cơ điện lạnh Seatech… Anh Phan Hải cho rằng đây cũng là một cách chia lửa về tình yêu hàng Việt: “Bản thân doanh nghiệp đi bán hàng Việt mà không sử dụng hàng Việt thì làm sao truyền lửa được cho người tiêu dùng”.

Khi cùng chung mục đích

Nhiều doanh nghiệp còn liên kết với nhau trong những chuyến đưa hàng về nông thôn hay những phiên chợ công nhân. Cách đây không lâu, một nhóm bạn ra đời trong những chuyến bán hàng ở khu vực phía Bắc như Lạng Sơn, Bắc Giang, Hoà Bình mà thành viên hầu hết là phó phòng, trưởng phòng kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam, như bột giặt Lix, vang Thăng Long, pin Hà Nội… Thông qua những chuyến bán hàng nông thôn, họ cùng chia sẻ về kinh nghiệm thị trường, thói quen tiêu dùng của người dân địa phương, chia nhau phòng trọ và cả… tô mì.

Còn ở khu vực phía Nam, các doanh nghiệp thân thiết với nhau nhiều hơn nhờ cùng sinh hoạt trong câu lạc bộ marketing manager và những chuyến đưa hàng Việt về nông thôn, phiên chợ công nhân… do trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) tổ chức. Họ dễ dàng chia sẻ với nhau chuyện bán hàng, bàn cách làm sao cho người dân phân biệt hàng thật hàng giả...

Theo bà Vũ Kim Hạnh, giám đốc trung tâm BSA, đó là bài học xuất phát từ thực tế thị trường. Bà Kim Hạnh cũng thông tin thêm, sau khi dự án đưa hàng Việt về nông thôn giữa trung tâm BSA với bộ Công thương kết thúc vào cuối tháng 9 này, BSA vẫn tiếp tục tổ chức các chuyến bán hàng nông thôn theo đặt hàng của các địa phương, gần nhất là khu vực miền Tây Nam bộ như An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng…

Hội chợ HVNCLC Đà Nẵng: doanh số bán hàng trực tiếp đạt 27 tỉ đồng

Hội chợ HVNCLC tại TP Đà Nẵng đã kết thúc tối qua (5.9) sau sáu ngày sôi động. Theo số liệu thống kê của ban tổ chức, tổng số lượt khách tham quan hội chợ ước tính gần 300.000 lượt người. Các doanh nghiệp tham gia đã mở 133 điểm phân phối, đại lý mới, 46 biên bản ghi nhớ và 30 hợp đồng đã được ký kết trong thời gian sáu ngày diễn ra hội chợ. Doanh số bán hàng trực tiếp của doanh nghiệp ngay tại hội chợ là 27 tỉ đồng.

Từ nay đến cuối năm, hội chợ HVNCLC sẽ tiếp tục được tổ chức tại hai địa phương: Cần Thơ (19.10 – 24.10.2010) và Cà Mau (từ 16.11 – 21.11.2010).
Theo SGTT

13 tháng 8, 2010

Diễn Đàn Niềm Tin Hàng Việt: Xài Hàng Việt Là Đẳng Cấp

“Dùng hàng Việt không có nghĩa là không đẳng cấp” - các đại sứ hàng Việt đã chia sẻ câu chuyện về hàng Việt trong cuộc gặp với tiểu thương miền Bắc tại Hà Nội do Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) phối hợp với báo Tuổi Trẻ tổ chức.

đại sứ hàng Việt
Đại sứ hàng Việt - nghệ sĩ Xuân Bắc - giao lưu với tiểu thương ở Hà Nội - Ảnh: C.V.K.

Hoa hậu Hương Giang cho biết trong khi người Việt Nam sang Singapore mua sắm, hoa hậu Singapore vẫn qua VN để shopping, “vì thế người Việt Nam không có lý do gì để không dùng, chê hàng Việt”.

Ưu tiên bán hàng nội

“Tôi đã đi nhiều nơi, phải nhìn thấy những công nhân thất nghiệp không có tiền đóng nhà trọ, không có tiền mua gạo, rồi không có tiền gửi về quê. Ở quê, có những cụ già, đứa trẻ ngơ ngác ngồi đợi ở cửa nhưng không thấy tiền cha mẹ trên thành phố gửi về. Hình ảnh đó quá thương tâm, quá xót xa.

Nên mới tự hỏi tại sao công nhân Việt Nam không có lương, tại sao Việt Nam nghèo? Làm thế nào hàng Việt Nam bán được, công nhân không thất nghiệp? - nghệ sĩ Quyền Linh, chủ nhiệm Câu lạc bộ Đại sứ hàng Việt, đã chia sẻ như vậy để nói về lý do tự nguyện đi làm đại sứ hàng Việt - Nhiều người cứ nghĩ làm đại sứ hàng Việt cho doanh nghiệp nhiều tiền lắm. Nhưng chúng tôi làm hoàn toàn tự nguyện, không nhận chi phí nào”.

Có cơ hội đi nhiều, nghệ sĩ Quyền Linh chia sẻ thực tế tại nhiều nước, chủ quán luôn tiếp thị hàng nội địa của họ trước, khi người nước ngoài không mua họ mới giới thiệu hàng nhập ngoại khác. “Các nước giàu một phần vì thế”. Theo Quyền Linh, trong cuộc vận động người Việt ưu tiên dùng hàng Việt, các nghệ sĩ, nhà vận động chỉ đóng vai phụ, đóng vai chính là các tiểu thương, người tiêu dùng.

“Vì cơm áo gạo tiền phải bán hàng nước ngoài. Nhưng nếu cứ để hàng nước ngoài thống lĩnh thị trường thì Việt Nam khó giàu. Xin các tiểu thương cố gắng trong sạp hàng của mình có hàng Việt, các doanh nghiệp cố gắng tăng chất lượng, giảm giá để ủng hộ thượng đế của mình”.

Ông Phạm Đức Hải, tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, cho rằng là người đi bán hàng, theo kinh nghiệm của các nước, doanh nghiệp cần đảm bảo bốn “bí quyết” để được lựa chọn: đảm bảo chất lượng, giá, có địa điểm tốt và khuyến mãi cho người tiêu dùng. Đặc biệt, ông Hải đề nghị doanh nghiệp nghiên cứu thêm một yếu tố thứ năm, đó là chữ “phúc” khi bán hàng.

“Làm sao để món hàng mua được từ người sản xuất đem lại hạnh phúc cho nhà sản xuất, cho hàng ngàn công nhân và gia đình họ nhưng cũng phải đem lại hạnh phúc cho người tiêu dùng” - ông Hải nói.

Ông Hoàng Anh Tuấn, giám đốc Vinamilk chi nhánh phía Bắc, đồng ý quan điểm trên và cho rằng bản thân kinh nghiệm của Vinamilk khi đảm bảo chữ “phúc” với đầu tư cho chất lượng, như đầu tư hệ thống xe vận tải để đem sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng, đầu tư hệ thống tủ lạnh lớn để đảm bảo sản phẩm sữa chua... ngay lập tức đã nhận được “quà tặng” của người tiêu dùng, đó là sản phẩm của Vinamilk sản xuất thường chỉ đứng ngoài thị trường 4-5 ngày đã được tiêu thụ hết...

Thêm hàng cho nông thôn

Nếu như trước đây, nhiều người cho rằng doanh nghiệp Việt Nam bỏ quên thị trường trong nước thì nay, theo bà Vũ Kim Hạnh - giám đốc Trung tâm BSA, điều đáng mừng là đã có nhiều doanh nghiệp không chỉ quay về thị trường nội địa mà đã thiết kế và sản xuất riêng các mặt hàng phục vụ thị trường trong nước, đặc biệt là thị trường nông thôn. Các doanh nghiệp, tiểu thương cũng đã có sự liên kết, hỗ trợ nhau để tăng hiệu quả, giảm chi phí trong hoạt động xúc tiến thị trường nội địa.

Điều này, theo bà Hạnh, là rất quan trọng vì nó tạo tiền đề để các doanh nghiệp liên kết tận dụng, liên kết phát triển hệ thống phân phối để cùng chiếm lĩnh thị trường nông thôn.

Theo ông Phan Văn Kiệt - phó tổng giám đốc Công ty may Việt Tiến, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang cố gắng biến điều đúng ra là có lý nhưng lại đang là nghịch lý chưa làm được: hàng Việt phải chiếm đa số ở thị trường nông thôn. Theo ông Kiệt, Việt Tiến đã cho ra mắt thương hiệu mới Việt Long với giá thành vừa phải, phục vụ viên chức, sinh viên và những người thu nhập trung bình. Ở chợ huyện, xã người tiêu dùng cũng muốn dùng hàng có nguồn gốc, uy tín nhưng đa số doanh nghiệp khi đưa ra thị trường sản phẩm mới thường có khuynh hướng nhắm vào phân khúc thị trường trung cao cấp, dù phân khúc thấp chiếm tới trên 60%.

“Chúng tôi ra thương hiệu Việt Long nghĩa là Rồng Việt, chất lượng theo tiêu chuẩn Việt Tiến nhưng giá mềm hơn để phục vụ người Việt, cũng là muốn chia sẻ với cộng đồng sau khó khăn suy giảm kinh tế” - ông Kiệt nói.

Phải tự hào về hàng Việt

Vừa chính thức là một trong số năm tân đại sứ hàng Việt mới, nghệ sĩ Xuân Bắc cũng phân tích hàng Việt muốn được ưu tiên thì phải đáng để ưu tiên. Nếu chấm điểm, hàng Việt được tám thì có thể ưu ái lên chín, chứ chỉ bốn thì làm sao ưu tiên được? Tân đại sứ hàng Việt, nghệ sĩ Quang Thắng cũng đánh giá nhiều mặt hàng Việt Nam giá còn cao, cần tìm cách giảm chi phí, đảm bảo chất lượng nhưng giá thành phù hợp với thu nhập của đại đa số người dân.

Theo bà Vũ Kim Hạnh, hàng Việt vẫn chịu sức ép lớn. Như mặt hàng hoa quả, theo bà Hạnh, nhiều tiểu thương đang bán trái cây Trung Quốc nhưng lại nói là hàng Việt Nam.

Nghệ sĩ Thanh Thủy nêu một câu chuyện có thật vừa vui vừa buồn: có diễn viên vào cửa hàng mua quần áo, dù định mua hàng Việt nhưng lại xin chủ cửa hàng lấy nhãn hiệu nước ngoài dán vào hàng Việt. Thật buồn nhưng cũng thật vui vì chủ cửa hàng đã từ chối. Lý do được đưa ra là vì uy tín của mình, nhưng một lý do nữa là “hàng Việt Nam chất liệu đẹp, có điểm riêng về mẫu mã, không có lý do gì mà phải dùng mác khác” - nghệ sĩ Thanh Thủy kể.

Ra nước ngoài, “made in VN” rất nhiều

NSƯT Tạ Minh Tâm nêu một chuyện buồn: nhiều người nói không bao giờ xài hàng Việt vì không thể hiện đẳng cấp. “Để tôn vinh được hàng Việt không dễ vì nhiều bạn trẻ có xu hướng sính ngoại, ngay cả trong lĩnh vực văn hóa. Nhưng nếu người bán hàng cũng đều là đại sứ thì khác”. Trước khó khăn đó, ông Tâm bày tỏ mong mọi người đều là đại sứ để sản xuất và nền kinh tế Việt Nam ngày càng mạnh hơn.

Nghệ sĩ Thanh Thủy cho rằng quan niệm trên là thực tế buồn. Ra thế giới, “made in VN” rất nhiều. Nhiều nhà hàng Pháp sang trọng đang dùng mặt hàng gốm Việt Nam. Nên quan niệm trên vừa sai, vừa không hợp lý.
Theo Tuổi trẻ

4 tháng 8, 2010

Tìm Chỗ Đứng Hàng Việt Trong Lòng Người Việt

Sau một năm vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, một cuộc hội thảo tìm chỗ đứng cho hàng Việt sẽ được tổ chức sáng 6/8 tới ở Hà Nội.

hàng may mặc Việt nam
Chọn hàng may mặc Việt Nam ở một siêu thị Hà Nội. Ảnh: NK

Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đơn vị chủ trì cuộc vận động, giao cho Báo Đại Đoàn Kết phối hợp tổ chức cuộc hội thảo quy tụ nhiều học giả, chuyên gia đầu ngành về thị trường, kinh tế, tài chính, Hiệp hội tiêu chuẩn và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, các nhà quản lý.

Phó Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết Nguyễn Minh Ngọc cho hay, các đại biểu sẽ nhìn lại kết quả một năm thực hiện cuộc vận động, đánh giá đúng thị trường trong nước, tìm hướng đẩy mạnh đưa hàng Việt về nông thôn…

Đặc biệt, chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành sẽ trình bày vấn đề bảo hộ tiêu dùng nhà nước trong việc tiêu dùng hàng hóa trong nước.

15 thương hiệu đoạt Cúp Tự hào thương hiệu Việt do độc giả báo Đại Đoàn Kết bình chọn trong một tháng rưỡi qua sẽ được trao thưởng dịp này.
Theo Vietnamnet

24 tháng 7, 2010

Nhập Khẩu “Hàng Lạ” - Kỳ Cuối: Buôn Thiếu Bạn, Bán Thiếu Phường

Chuối, nấm, tăm tre, cám gạo... là những mặt hàng trong nước hoàn toàn có thế mạnh sản xuất nhưng vì sao vẫn được nhập khẩu? Giải quyết vấn đề trên như thế nào? Để kết thúc loạt bài này, Tuổi Trẻ xin giới thiệu góc nhìn từ chính các nhà sản xuất trong nước và các chuyên gia...

Người tiêu dùng chọn mua nấm nhập khẩu từ Trung Quốc tại siêu thị Big C, quận Phú Nhuận, TP.HCM
Người tiêu dùng chọn mua nấm nhập khẩu từ Trung Quốc tại siêu thị Big C, quận Phú Nhuận, TP.HCM - Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Kỳ 1: Mua tăm tre từ Trung Quốc
Kỳ 2: Nấm ngoại tung hoành
Kỳ 3: Chi hàng triệu USD nhập cám gạo
Kỳ 4: Miếng rửa chén triệu USD

Ông Vũ Ngọc Quỳnh (giám đốc chi nhánh phía Nam Công ty tăm tre Á Đông):

Chúng tôi đã bị siêu thị từ chối

Tôi có thể khẳng định chắc chắn rằng việc tăm nhập khẩu ồ ạt vào thị trường trong nước không phải do các nhà sản xuất trong nước không làm được mặt hàng này, hoặc sản xuất không đủ nhu cầu tiêu thụ. Trên thực tế, chúng tôi có dư năng lực để sản xuất và đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng cả về số lượng và chất lượng. Từ số liệu báo Tuổi Trẻ cung cấp có thể thấy tăm tre nhập khẩu (chỉ riêng hàng về qua cảng Cát Lái) đã chiếm 35-40% thị phần tiêu thụ tăm tại khu vực phía Nam.

Như vậy, nếu tính tăm nhập về qua các cảng khác và hàng về từ khu vực phía Bắc chuyển vào (rất nhiều tăm tre được nhập và chuyển vào thị trường TP.HCM từ phía Bắc), tăm nhập khẩu chiếm lĩnh khoảng 50% thị phần tiêu thụ. Theo tính toán của chúng tôi, hiện mỗi tháng lượng tiêu thụ tăm tre của khu vực phía Nam gần 400 tấn. Trong khi đó, công ty chúng tôi có thể sản xuất được 60-70 tấn tăm nhọn hai đầu, 10 tấn tăm VIP và gần 400 tấn tăm đầu bằng.

Dù năng lực sản xuất vượt cả quy mô tiêu thụ nhưng để đưa hàng đi tiêu thụ, cạnh tranh với hàng ngoại lại không dễ dàng. Khi xâm nhập thị trường phía Nam, nhiều lần chúng tôi bị siêu thị từ chối thẳng thừng ngay khi vừa mở miệng chào mua hàng.

Ông Lương Vạn Vinh (giám đốc Công ty hóa mỹ phẩm Mỹ Hảo):

Nâng cao lòng tin của người tiêu dùng

Ngoại trừ một số sản phẩm, nguyên liệu sản xuất doanh nghiệp trong nước chưa cung ứng được hiện nay có rất nhiều sản phẩm VN sản xuất tốt, giá rẻ nhưng hàng ngoại vẫn xuất hiện và được tiêu thụ mạnh.

Cùng một sản phẩm nước giặt áo quần, hàng Việt chỉ 23.000 đồng/lít, hàng của các thương hiệu quốc tế đến 47.000-48.000 đồng/lít nhưng vẫn bán chạy cho dù đều được mua nguyên liệu từ một nhà cung cấp, cùng công nghệ sản xuất.

Nhiều sản phẩm VN được xuất khẩu đi khắp nơi trên thế giới, vượt qua các vòng kiểm tra chất lượng gắt gao nhưng lại khó cạnh tranh ngay trên đất nước mình, chứng tỏ năng lực cạnh tranh của hàng hóa, nhà sản xuất trong nước vẫn hạn chế.

Doanh nghiệp tự tin về chất lượng sản phẩm làm ra nhưng thiếu sự kết hợp đồng bộ để đưa sản phẩm ra thị trường và trụ vững lâu dài. Trong khi chờ đợi những hàng rào kỹ thuật từ phía quản lý nhà nước, quan trọng vẫn là ý thức người tiêu dùng.

Bà Trần Lê Thu Thảo (tổng giám đốc Công ty TNHH thương mại Dona):

Chúng tôi bị đánh bật khỏi thị trường nội địa

Dù những người sản xuất và kinh doanh trong ngành nấm đã cảm nhận được sức ép từ Trung Quốc trước đó nhưng không ngờ nó lại đến nhanh và khốc liệt như vậy. Hiện nấm Trung Quốc đã chiếm trên 70% thị trường VN. Các công ty đang phải giảm chủng loại nấm ăn vì không thể cạnh tranh với hàng Trung Quốc hoặc phải tìm cách xuất khẩu ra nước ngoài.

Chúng tôi không biết cơ quan chức năng đã phân tích các loại nấm nhập khẩu trước khi đưa vào thị trường hay chưa, và các nhà phân phối có kiểm soát được chất lượng hay không. Chỉ biết rằng việc đưa hàng Việt vào các siêu thị và hệ thống bán lẻ nội địa gặp nhiều khó khăn, thậm chí có nơi nhân viên phụ trách mua còn đòi tiền hoa hồng mới đồng ý ký hợp đồng.

Hiện nhiều nhà sản xuất nấm trong nước đang chuyển hướng tìm các thị trường để xuất khẩu bởi không thể cạnh tranh nổi với hàng Trung Quốc. Nếu Nhà nước không có biện pháp kiểm soát chặt chẽ về chất lượng và hỗ trợ về chính sách cho người sản xuất nấm thì sớm muộn thị trường nấm trong nước cũng bị hàng nhập khẩu chiếm hết.

Ông Nguyễn Văn Long (giám đốc Công ty TNHH Hương Cảnh, Hóc Môn, TP.HCM):

Nông dân Trung Quốc được hỗ trợ rất nhiều

Tôi từng đi tham quan thực tế sản xuất nông nghiệp tại Vân Nam (Trung Quốc) và thấy người dân tại đây được hỗ trợ từ nhà nước rất nhiều và rất thiết thực. Nhà nước không cho tiền trực tiếp người dân mà đầu tư cho các nhà khoa học nghiên cứu ra các loại giống mới, công nghệ mới, máy móc... để phục vụ người dân. Nông dân được hỗ trợ về giống, phân bón, tiền vận chuyển... nên giá thành rất thấp.

Trong khi đó ở VN nông dân và các đối tượng tham gia nông nghiệp ít được hỗ trợ. Những công ty tham gia sản xuất nông nghiệp như chúng tôi thường phải bỏ tiền túi để cung cấp giống, phân bón... cho người dân. Có nhiều chương trình vay vốn hỗ trợ nông nghiệp nhưng để tiếp cận được nguồn vốn này là điều không dễ dàng.

TS Mai Quốc Vọng (Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội):

Quyết định vẫn là giá thành

Khi đã hội nhập chúng ta phải xác định sẽ cạnh tranh khốc liệt với bên ngoài. Nhưng thực tế, chúng ta đã không chuẩn bị được các điều kiện đủ để tạo ra một nền sản xuất nông nghiệp có chất lượng cao và giá thành thấp. Chất lượng cao sẽ là xu hướng toàn cầu, vì vậy yếu tố cạnh tranh cuối cùng chính là giá thành. Nhiều nước, trong đó có Trung Quốc, có những chính sách trợ giúp nông dân sản xuất với chi phí rẻ hơn, trong khi những trợ giúp cho nông dân VN chưa đủ và rõ ràng.

Từ trước đến nay chúng ta vẫn cho mình có lợi thế giá nhân công rẻ nhưng thực tế thì giá thành sản xuất hàng nông sản VN thường cao hơn các nước do tác động của nhiều yếu tố khác. Đó là một nền sản xuất manh mún rất khó tập trung để sản xuất những loại hàng hóa đồng nhất về mẫu mã và chất lượng với khối lượng lớn.

Công nghệ sau thu hoạch của chúng ta quá kém nên không thể đảm bảo độ tươi ngon của sản phẩm khi vận chuyển từ vùng trồng đến nơi tiêu thụ. Hệ thống hạ tầng yếu kém vừa giảm chất lượng nông sản vừa tăng giá thành.

Ông Hoàng Trọng (giảng viên ĐH Kinh tế TP.HCM):

Cần sự hỗ trợ từ xa của Nhà nước

Nước ta là xứ chuối mà chuối nhập khẩu cũng đã có mặt. Đó là câu chuyện báo động. Chuối là trái cây có mùa vụ quanh năm, thà rằng những trái cây khác như xoài, măng cụt chủ yếu trồng theo thời vụ, khi trái mùa có thể hàng nhập khẩu xuất hiện. Chuối chỉ là khởi đầu cho quá trình hội nhập, sau chuối sẽ còn nhiều nông sản khác tràn vào VN.

Đặc điểm các nông sản nhập khẩu vào VN là dù đi đường xa thế nào khi sang thị trường này vẫn tươi xanh, bóng đẹp. Nông sản VN thì giá trị giảm dần tỉ lệ thuận với quãng đường vận chuyển do việc bảo quản sau thu hoạch đến thị trường tiêu thụ còn kém.

Hạn chế tình trạng nhập khẩu nông sản một cách báo động như hiện nay bằng hàng rào kỹ thuật chỉ giải quyết được phần ngọn. Gốc của vấn đề là nông sản trong nước phải gia tăng giá trị sử dụng thông qua biện pháp kỹ thuật và sự hỗ trợ từ xa của Nhà nước.
Theo Tuổi trẻ