Hiển thị các bài đăng có nhãn Ý Tưởng - Chia Sẻ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ý Tưởng - Chia Sẻ. Hiển thị tất cả bài đăng

21 tháng 10, 2010

Muốn Khỏe Không Nên Uống Quá 243ml Bia Mỗi Ngày

Thông tin vừa được GS.TS Nguyễn Hải Thủy, Phó Chủ tịch Hội nội tiết đái tháo đường Việt Nam đưa ra trong khuôn khổ Hội thảo khoa học “Bia và sức khỏe người tiêu dùng” diễn ra vào sáng ngày 20/10 tại Đà Nẵng.

Theo đó, nhằm đảm bảo sức khỏe đối với người tiêu dùng trong việc sử dụng sản phẩm nước giải khát, đặc biệt là sản phẩm bia, sáng ngày 20/10, Hiệp hội Bia rượu nước giải khát Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học “Bia và sức khỏe người tiêu dùng”.

hội thảo Bia do Sabeco tổ chức
Hội thảo "Bia và sức khỏe người tiêu dùng" nhận được sự quan tâm chú ý của các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp và nhà phân phối trong việc đảm bảo sức khỏe khi sử dụng

Tại hội thảo, các chuyên gia tham gia thảo luận và trình bày các nghiên cứu, tác hại cũng như lợi ích của bia đối với sức khỏe người tiêu dùng. GS.TS Nguyễn Hải Thủy, Phó Chủ tịch Hội nội tiết đái tháo đường Việt Nam cho biết: “Chúng ta không phủ nhận những lợi ích từ bia mang lại cho sức khỏe con người. Tuy nhiên sử dụng bia như thế nào đang là vấn đề cần quan tâm. Việc sử dụng bia phải đúng cách và đúng liều lượng, nếu không sẽ gây hại cho sức khỏe và phát sinh những bệnh lý liên quan, ảnh hưởng đến nội tạng. Theo đó, người tiêu dùng không nên dùng quá 243ml bia mỗi ngày, và nếu uống nhiều, tác hại gây ra đối với sức khỏe con người sẽ không khác tác hại của rượu”.

Dưới góc độ quản lý nhà nước, ông Lữ Bằng, Phó Giám đốc Sở Công thương TP Đà Nẵng lo ngại, hiện Đà Nẵng đang có hơn 20 sản phẩm bia các loại từ sản xuất trong nước đến nhập khẩu được bày bán trên thị trường. Và để cạnh tranh, nhiều thương hiệu không ngại sử dụng những chiêu thức gây ảnh hưởng xấu đến thị trường và gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần có cái nhìn đúng đắn trong việc phục vụ người tiêu dùng và đặt tiêu chí sức khỏe người tiêu dùng lên hàng đầu.

Ông Lê Hồng Xanh, Giám đốc điều hành tiếp thị Cty Bia Sabeco ghi nhận, ngoài việc đảm bảo chất lượng sản phẩm đối với người tiêu dùng thì việc khuyến cáo, hướng dẫn người tiêu dùng sử dụng sản phẩm bia đúng cách là nhiệm vụ của các doanh nghiệp sản xuất. Trong thời gian tới, các doanh nghiệp sản xuất bia rượu sẽ chú ý đến công tác này thông qua các hoạt động phân phối sản phẩm và lưu thông.
Bửu Lân (VTC News)

30 tháng 9, 2010

Cuộc Thi Sư Tử Trẻ Việt Nam 2011!

Trong năm nay, Công ty TNHH Truyền thông Hoa Mặt Trời sẽ tổ chức cuộc thi Sư tử Trẻ Việt Nam (Vietnam Young Lions) lần thứ ba.


Cuộc thi Sư tử Trẻ Việt Nam 2011 sẽ bao gồm ba thể loại: Quảng cáo Báo chí, Phim Quảng cáo và Chiến lược Truyền thông.

- Các đội tham gia thể loại Quảng cáo báo chí sẽ có 24 giờ để hoàn thành một bản quảng cáo trên máy tính.
- Các đội tham gia thể loại Phim quảng cáo sẽ có 48 giờ để hoàn thành tác phẩm dự thi của mình trên máy tính.
- Các đội tham gia thể loại Chiến lược truyền thông sẽ có 24 giờ để hoàn tất chiến lược truyền thông trong một định mức ngân sách đã được quy định sẵn.

Các thí sinh phải là công dân quốc tịch Việt Nam với thẻ chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu hợp lệ, độ tuổi từ 18 đến 28, hiện đang học tập và làm việc trong ngành quảng cáo sáng tạo tại Việt Nam.

Chủ đề của cuộc thi sẽ được giữ bí mật đến ngày các đội được chọn chính thức tranh tài.

Hãy tải đơn đăng ký dự thi hoặc e-mail: pthang@hoamattroi.com

Hồ sơ đăng ký gởi về: Ms. Phạm Thu Hàng, phòng Hành chính, Công ty TNHH Truyền thông Hoa Mặt Trời, 11 Đoàn Văn Bơ, P. 12, Q. 4, TP. HCM.

Hạn cuối nộp hồ sơ vòng sơ tuyển: Trước 18 giờ ngày 1 tháng 10 năm 2010
Chung kết: Từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 11 năm 2010.

Đội chiến thắng chung cuộc ở thể loại Phim Quảng cáo và Quảng cáo báo chí sẽ đại diện Việt Nam tham gia cuộc thi Young Lions tại Liên hoan Quảng cáo Cannes Lions 2011 vào tháng 6 năm 2011. Đội chiến thắng ở thể loại Chiến lược truyền thông sẽ đại diện Việt Nam tham gia Spikes Asia 2011 vào tháng 9 năm 2011.

Vui lòng tham khảo điều lệ và chương trình tổng quát trước khi tham gia cuộc thi Sư tử Trẻ Việt Nam 2011. Để biết thêm thông tin chi tiết, hãy e-mail: lttnkoanh@hoamattroi.com.
Theo Sunflowermedia

14 tháng 9, 2010

Tiêu Dùng Thông Minh: Buộc Nhãn Mác Phải 'Biết Nói'

Không phải người tiêu dùng nào cũng để ý đến thông tin trên nhãn mác sản phẩm, một phần vì không có người chỉ cho...

tiêu dùng thông minh - nhãn mác

Khi mua một chiếc áo sơ mi, bên cạnh kiểu dáng và chất liệu, bạn sẽ chọn “size 38, 39 hay 40”. Tương tự như vậy, một chiếc lắc tay đẹp khi mua bạn cũng phải xem rất kỹ mình nên mua loại vàng bao nhiêu tuổi...

"Mua áo chọn size, mua vàng xem tuổi" - điều này thì chắc ai cũng biết. Vậy mà khi mua các dòng sản phẩm như: đồ gỗ, rượu, xì- gà, loại hàng mà tuổi càng cao càng có giá trị thì nhiều người tiêu dùng lại không quan tâm tới con số về độ tuổi ghi trên bao bì sản phẩm, chỉ chọn hàng theo thói quen, uy tín thương hiệu hoặc sự bắt mắt.

Nếu bạn từng như vậy, hãy thay đổi thói quen này vì mỗi con số trên bao bì, nhãn mác đều là “những con số biết nói”!

Khi người mua... không hiểu

Một buổi chiều ở siêu thị Fivimart 94 Hoàng Quốc Việt, tôi lang thang tìm mua vài món đồ làm quà sinh nhật anh bạn thân thời đi học. Một hộp Sôcôla thật ngon cho tụi nhỏ, 1 chai rượu cho bố nó. Cũng tươm tất, mát mặt rồi đây! Loay hoay trên tay mấy hộp sôcôla mà chẳng biết chọn hộp nào.

Bất giác tôi hỏi chị khách hàng bên cạnh, trông có vẻ chọn hàng rất “sành": " Chị ơi, loại này có ngon không chị? Chị đã mua bao giờ chưa? ". Chị phụ nữ xởi lởi: “Chị cũng chưa thử qua loại này. Theo chị, ngoài việc chọn mua hàng theo thương hiệu, em cần xem kỹ thông tin ghi trên nhãn mác sản phẩm, đặc biệt là những con số ấy”.

Nhìn thấy vẻ “chậm hiểu” của tôi, người phụ nữ vui vẻ giải thích: "Này nhé, Sôcôla “xịn” thành phần sẽ ghi 100% cacao hoặc con số % của cacao. Tỷ lệ % này càng cao thì thanh sôcôla càng nguyên chất. Mà càng nguyên chất thì càng giòn và cũng càng đắng. Cứ mua loại 40%-50% là được lắm rồi, dễ ăn.

Còn nếu trong thành phần có ghi CBS hay CBR hay là chữ Chocolate compound thì có nghĩa đó là sôcôla chứa hợp chất hoặc có chứa chất tạo giả vị béo, ăn không thể được như hương vị sôcôla "xịn" được. Em không cẩn thận là sẽ mua phải sôcôla hợp chất với giá trên trời vì vỏ hộp đẹp đó".

Ngẩn người ra tôi tranh thủ hỏi tiếp:"Thế còn mua Whisky thì sao hả chị?"

Nhìn tôi giây lát chị nói: "Mua loại này phải xem tuổi rượu không là bị hớ đấy. Tuổi rượu ghi ngay trên mặt nhãn rượu ấy. Với dòng này, loại nào không ghi tuổi thì có thể hiểu là sản phẩm chỉ tối đa là 3 năm tuổi. Cái này là quy định quốc tế rồi. Rượu càng lâu năm càng quý. Uống ngon mà mang tặng cũng mát mặt em ạ!"

Nghe chị thao thao "giảng giải", mấy vị khách đi qua cũng ghé xem. Chẳng riêng tôi, ai cũng phục chị sành điệu. Mấy bác lớn tuổi lắc đầu cười: "Cái nhãn bé tí teo, thông tin in chi chít, chả biết cái nào là quan trọng, chả ai nói cho mà biết. Nếu hiểu thì đọc tí là xong, chứ không hiểu thì có khi “lẩm nhẩm” cả buổi cũng chả chọn được hàng, mua đại khái là mất toi tiền”.

Mong muốn chính đáng của người tiêu dùng

Rời siêu thị, tôi cứ băn khoăn: dù thông tin về sản phẩm có được ghi rõ trên bao bì nhãn mác đến mấy mà người dân không biết cách đọc và hiểu thì thông tin này có còn nguyên giá trị với người tiêu dùng? Đành rằng việc đọc và hiểu đúng các thông tin ghi trên nhãn mác hàng hoá thể hiện sự am hiểu của người tiêu dùng nhưng nếu không ai chỉ thì làm sao người tiêu dùng hiểu được các con số trên nhãn mác nói gì?

Nói về tầm quan trọng của thông tin, con số trên bao bì sản phẩm tại hội thảo “Những con số biết nói” diễn ra này 20/8/2010 tại Hà Nội, ông Bạch Văn Mừng - Cục trưởng cục quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương) nhấn mạnh: giới truyền thông phải tích cực hơn nữa trong việc thông tin đến người tiêu dùng, tuyên truyền và hướng dẫn cho người tiêu dùng về thói quen đọc- hiểu nhãn mác sản phẩm trước khi quyết định chọn lựa; mua hàng cần lưu ý đến tên - tuổi sản phẩm; giúp người tiêu dùng chọn sản phẩm có chất lượng, đánh giá đúng giá trị tương xứng của sản phẩm mà họ tiêu dùng.

Các con số dù nhỏ, dù to thể hiện trên nhãn mác luôn nói lên giá trị của sản phẩm và người tiêu dùng không nên bỏ qua chi tiết này khi chọn mua hàng. Thiết nghĩ, nhà sản xuất và giới truyền thông cần tuyên truyền, hướng dẫn để người tiêu dùng hiểu rõ các thông tin, con số quan trọng đó nói gì.
Theo VietNamNet

13 tháng 9, 2010

Hàng Việt - Chăm Sóc "Cái Nhỏ" Để Được "Cái Lớn"

Thấu hiểu người tiêu dùng là một trong những lý do để hàng hóa được chọn mua. Điều này thể hiện qua những chi tiết tưởng chừng rất nhỏ như bao bì dễ mở, kích cỡ vừa tầm người sử dụng, chất liệu có độ bền nhất định... Về điều này, nhiều doanh nghiệp (DN) sản xuất hàng Việt nhận xét, họ còn phải cải tiến nhiều để chinh phục người tiêu dùng trong nước.

hàng Việt nam chất lượng cao tại Đồng nai
Theo người tiêu dùng, một số thực phẩm đóng hộp của Việt Nam bày bán trên thị trường chưa tiện lợi khi sử dụng.

Nhiều mặt hàng chưa tiện dụng

Quan sát cho thấy, so với hàng ngoại, hàng liên doanh do các tập đoàn đa quốc gia sản xuất thì tính tiện dụng của hàng tiêu dùng Việt vẫn chưa bằng. Chị Đặng Thị Hân, kế toán, nhà ở phường Tân Tiến (TP. Biên Hòa) nói: "Gia đình tôi thường xuyên dùng các mặt hàng thực phẩm như: dầu ăn, nước mắm, gia vị... do các DN trong nước sản xuất. Chất lượng và khẩu vị thì tốt, nhưng trong nhiều trường hợp, bao bì sản phẩm rất khó mở. Chẳng hạn, các chai dầu ăn, nước mắm, nước tương... do DN trong nước sản xuất thường làm nút bảo quản bằng một vành nhựa trắng, khi giật lên sử dụng, nắp thường xuyên bị đứt, phải dùng mũi dao nạy lên hoặc khoét lỗ khá phức tạp, đôi khi gây nguy hiểm".

Tương tự, một số người tiêu dùng khác cũng cho biết, nhiều khi việc lựa chọn hàng hóa nội hay ngoại phụ thuộc khá nhiều vào tính tiện dụng. Đơn cử là mặt hàng đồ hộp của nhiều thương hiệu nội - ngoại đang bán trên thị trường. Nhiều người bán cho biết, các loại cá hộp, thịt hộp, pa-tê đóng hộp... của Thái Lan hay hàng nhập từ Trung Quốc, Mỹ, châu Âu... tuy có giá cao hơn, song được nhiều người chọn mua vì một chi tiết rất nhỏ là nắp giật trên sản phẩm rất tiện dụng, chỉ cần giật nhẹ là mở được hộp, trong khi sản phẩm của nhiều DN Việt Nam lại chưa làm được điều này, trừ một vài DN lớn. Theo đó, muốn mở hộp, người tiêu dùng phải dùng dao đục trực tiếp vào lớp kim loại của sản phẩm, rất bất tiện.

Chị Lan, chủ một cửa hàng tạp hóa trên đường Hà Huy Giáp - Biên Hòa cho biết, người tiêu dùng đánh giá khá cao tính tiện dụng của hàng hóa. Theo đó, bao bì dễ mở, dễ bảo quản là những đòi hỏi không kém các tiêu chí về chất lượng, mẫu mã mặt hàng. "Nhiều mặt hàng trong nước sản xuất đã có những cải thiện đáng kể về bao bì và mẫu mã, nhưng độ thấu hiểu người tiêu dùng thì chưa bằng hàng ngoại hay hàng liên doanh. Chẳng hạn, các mặt hàng mới ra, trong giai đoạn làm quen thị trường như: bột nêm, mỹ phẩm, dầu gội... của các tập đoàn đa quốc gia luôn có những gói sản phẩm rất nhỏ, giá rẻ để người tiêu dùng mua về xài thử. Trong khi nhiều DN Việt Nam chưa chú trọng việc này, muốn mua về dùng thử là phải mua một lượng sản phẩm nhất định, gây lãng phí nếu dùng không hợp " - chị Lan nói.

Hiểu người tiêu dùng để đầu tư đúng

Nhiều DN cho biết, thấu hiểu nhu cầu của người tiêu dùng để tạo ra những sản phẩm không chỉ tốt mà còn tiện dụng là không đơn giản, bởi nó đòi hỏi rất nhiều tâm sức, thời gian, có khi chỉ nhận biết được sau khi đã đưa rất nhiều sản phẩm ra thị trường. Ông Nguyễn Tuấn Phương, Giám đốc Nhà máy chế biến thực phẩm Đồng Nai (D&F), nhận xét, thực tế là nhiều DN sản xuất hàng trong nước chưa chú trọng đến tính tiện dụng của sản phẩm. Đa số đều đang dồn sự quan tâm của mình vào chất lượng và mẫu mã hàng hóa là chính. "Bao bì xé mở nhẹ nhàng, đồ hộp dễ mở, dễ bảo quản... là những tiêu chí của tính tiện dụng mà nhiều người tiêu dùng đánh giá cao. Tuy nhiên, có nhiều lý do để nhiều DN chưa đầu tư nhiều vào tính tiện dụng này, trong đó có vấn đề công nghệ và chi phí đầu tư, điều này cần có thời gian để cải thiện dần".

Ông Trần Bá Dũng, Phó giám đốc kinh doanh Công ty may túi xách Hương Mi (nhãn hiệu Hami), chia sẻ, cải tiến để sản phẩm tiện dụng hơn với người tiêu dùng đòi hỏi DN phải đầu tư, tìm tòi nhiều thông qua sự quan sát tinh tế của mình, nhất là khi sản phẩm đã được bán ra, được sử dụng. Chẳng hạn, với mặt hàng ba lô kéo dành cho học sinh, để cạnh tranh tốt hơn, công ty nghiên cứu tạo ra được cần kéo có thể tháo rời rất tiện dụng cho người dùng và đưa ra thị trường phải cần một thời gian mới được chấp nhận. Một số cải tiến khác như miếng lót đệm ở quai giúp xách cặp đỡ đau tay hay khóa kéo bằng nhựa dẻo kéo dài độ bền của sản phẩm tuy khá tốn kém khi đầu tư, song đã giúp sản phẩm của Hami được người tiêu dùng đánh giá cao hơn.
Theo báo Đồng Nai

25 tháng 8, 2010

Cần Sự Gắn Kết Giữa Người Sản Xuất Và Nhà Phân Phối

Sau 1 năm thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, hàng nội đã bước đầu tạo được chỗ đứng trong lòng người tiêu dùng. Tuy nhiên, để có vị trí vững chắc trong tương lai thì cả nhà sản xuất và phân phối phải có sự hỗ trợ và liên kết chặt chẽ hơn nữa.

Cần sự gắn kết giữa người sản xuất và nhà phân phối
Ảnh minh họa

Theo đánh giá của nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam thì, nhiều mặt hàng sản xuất trong nước gặp khó khăn khi tìm kiếm kênh phân phối có hiệu quả để bán sản phẩm của mình. Bà Dương Thanh Thủy, thành viên hiệp hội bán lẻ Việt Nam cho biết hiện nay sự liên kết giữa nhà sản xuất và nhà phân phối còn lỏng lẻo. Nhiều nhà phân phối trong đó phải kể đến siêu thị lớn vẫn dành sự ưu tiên đặc biệt cho những sản phẩm đã có thương hiệu, chưa cởi mở và ưu đãi đối với sản phẩm Việt chưa có thương hiệu vững mạnh.

Đó chính là khó khăn đối với nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong đó có các làng nghề truyền thống. Ông Phan Minh Doanh, Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ làng nghề Phùng Xá, Mỹ Đức Hà Nội chia sẻ: “Hiện nay cái khó khăn của làng nghề là việc tiêu thụ sản phẩm tại các siêu thị. Làng nghề đã giới thiệu và bán sản phẩm của mình tại địa bàn nông thôn nhưng ở các siêu thị thì việc tiếp cận vẫn còn rất khiêm tốn. Số lượng mặt hàng tại các siêu thị khu vực phía Bắc chỉ chiếm khoảng 20-25% trong tổng số mặt hàng sản xuất ra”.

Tại đô thị, nhiều người tiêu dùng đã quen với việc đi mua sắm ở siêu thị và trung tâm thương mại. Và đó chính là là kênh phân phối quảng bá hàng Việt rất có hiệu quả. Họ có điều kiện trưng bày, giới thiệu sản phẩm, tư vấn khách hàng và bán sản phẩm đến người tiêu dùng nhanh chóng và thuận tiện nhất.

Tuy nhiên cái khó của siêu thị và trung tâm thương mại từ thành thị đến nông thôn vẫn là vốn, bởi chi phí để vận hành rất lớn. Nếu như việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa kém sẽ ảnh hưởng lớn đến doanh thu của nhà phân phối. Vì vậy trong buổi hội thảo kết nối nhà sản xuất và nhà phân phối miền Bắc vì người tiêu dùng Việt, bà Dương Thanh Thủy, thành viên của Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam cũng chỉ ra những điểm còn lỏng lẻo trong mối liên kết giữa khâu sản xuất và khâu tiêu thụ, đó là hiện nay nhà phân phối chỉ biết bán hàng mà không có thông tin báo lại cho người sản xuất là hàng đó có mặt tích cực là gì, người tiêu dùng ưa chuộng ra sao và phải làm thế nào để đáp ứng đúng yêu cầu của khách hàng.

Theo bà Vũ Kim Hạnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) thì trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, nhà sản xuất và phân phối đều gặp những khó khăn nhất định. Vì vậy để tạo được sự gắn kết chặt chẽ của đầu vào và đầu ra sản phẩm thì cần có chính sách ưu đãi cho mỗi đơn vị.

Bà Vũ Kim Hạnh đề xuất giải pháp là không thể đưa tất cả hàng Việt ra trưng bày vì hàng hóa phải tuân thủ chất lượng an toàn, uy tín thương hiệu gì. Bà mong rằng, các siêu thị sẽ dành ra một phần cho các doanh nghiệp hàng Việt chưa có thương hiệu giới thiệu trong vòng 3 tháng chẳng hạn, nhà nước cần có hỗ trợ về quảng cáo….

Việc tổ chức các hình thức đưa hàng Việt Nam đến tay người tiêu dùng trong nước là động thái bước đầu giúp người tiêu dùng có thể nhận diện rõ hơn về hàng Việt Nam. Ngày nay, trước sức mạnh quảng cáo của các tập đoàn đa quốc gia thì quan niệm “hữu xạ tự nhiên hương” đã không còn nhiều tác dụng. Giữa muôn vàn hàng hóa đa dạng, đủ loại đang xuất hiện ngày một nhiều, hàng Việt Nam cần được giới thiệu, quảng bá để được người tiêu dùng biết đến, ủng hộ và sử dụng.

Vì thực chất hàng Việt Nam đã được cải thiện rất nhiều, hàng hóa tiêu dùng thiết yếu sản xuất trong nước phần lớn đã đáp ứng được nhu cầu về chất lượng và mẫu mã. Khi người Việt Nam chuộng hàng Việt Nam là khi doanh nghiệp đã tạo được chỗ đứng tốt, tự chủ trong nền kinh tế, tạo được nhiều việc làm, góp phần bảo đảm nguồn thu cho ngân sách cho quốc gia.
Theo VovNews

14 tháng 8, 2010

Lâm Đồng: Sản Xuất Rau Theo Chuẩn Châu Âu

Ngày 10.8, mô hình trồng khoai tây không cần đất và cũng không cần nước của nông dân Lê Văn Cường (phường 8, Đà Lạt, Lâm Đồng) đã được công bố như một điển hình về sản xuất rau sạch đúng nghĩa (được cấp giấy chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc tế Global Gap).

Mô hình này của ông Cường là mô hình "khí canh" lần đầu tiên của vùng rau Đà Lạt.

sản xuất rau sạch ở Lâm Đồng - Global Gap
Nhà nông Lê Văn Cường kiểm tra sự phát triển của khoai tây được trồng bằng phương pháp khí canh. Ảnh: KHắC DŨNG

Từ HACCP đến Global Gap

Ông Lê Văn Cường là một trong những nông dân trồng rau khá nổi tiếng ở phường 8, TP.Đà Lạt. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, khi hầu hết nông dân của TP rau hoa nổi tiếng này còn sử dụng phân xác mắm để bón cho cây trồng thì ông Cường đã tiếp cận với công nghệ rau sạch. Đến năm 2008, ông Cường thực sự chuyển toàn bộ diện tích đất trồng rau của mình sang canh tác công nghệ rau sạch với mức đầu tư (nhà lưới, hệ thống tưới, chế độ phân bón...) không nhỏ.

Chỉ một năm sau – đầu năm 2009 - Uỷ ban Tiêu chuẩn hóa thực phẩm quốc tế (Codex) đã chứng nhận sản phẩm rau sạch của ông Cường đạt tiêu chuẩn của hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn (HACCP). Và tiếp đến - tháng 4.2009 - sản phẩm rau của ông Cường được chứng nhận đạt chuẩn thực hành sản xuất nông nghiệp tốt quốc tế theo tiêu chuẩn Global Gap – chuẩn quốc tế (Châu Âu) hiện đang được cả vùng rau Đà Lạt phấn đấu.

“Người tiêu dùng ngày một chú ý hơn đến vấn đề sức khỏe của bản thân mình là một thực tế hiển nhiên. Do vậy, sản phẩm rau sạch là một trong những lựa chọn của người tiêu dùng khi tham gia thị trường” - ông Cường phát biểu. Với suy nghĩ đó, đầu năm 2010, ông Cường đã dồn mọi sức lực và tiền của để lập nên một trang trại lấy tên là “Ánh Ban Mai” rộng 5ha, chuyên sản xuất rau sạch với trên 40 loại rau cao cấp có nguồn gốc từ Châu Âu. Và, sau khi nhãn hiệu rau Đà Lạt được công nhận độc quyền (Dalat Gap), Cty (trang trại) của ông Cường được “giao nhiệm vụ” là đơn vị mẫu, chuẩn về rau sạch, chuyên sản xuất rau cao cấp: Cty TNHH Dalat Gap.

Khí canh – một hướng hoàn toàn mới

Ông Cường còn “móc nối” với một số nhà khoa học để thử nghiệm một số mô hình canh tác nông nghiệp... lạ! Trong đó, mô hình “khí canh” được áp dụng trên cây khoai tây là một ví dụ. “Khí canh trên cây khoai tây của ông Cường là mô hình khí canh lần đầu tiên được áp dụng tại vùng rau Đà Lạt” – lãnh đạo Sở NNPTNT Lâm Đồng xác nhận.

Phương pháp khí canh hiện đang được ứng dụng tại Cty TNHH Dalat Gap là do GS-TS Nguyễn Quang Thạch – Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Sinh học nông nghiệp - Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội, chuyển giao. Theo đó, cây khoai tây của ông Cường tại Dalat Gap chỉ được treo lơ lửng trên bộ giá đỡ trong môi trường không khí. Ông Cường nói rằng: “Việc chăm sóc cây khoai tây trong môi trường khí canh đã được lập trình bằng máy vi tính: Cứ 5 đến 15 phút, hệ thống tưới sẽ tự động phun tưới cho cây theo dạng phun sương; khi cần cho cây “ăn” phân, phân bón cũng sẽ được hòa với nước rồi phun vào bộ rễ của cây. Bộ rễ khoai tây trong môi trường thoáng khi như vậy rất dễ hấp thụ chất dinh dưỡng, nên khả năng sinh trưởng cao hơn so với môi trường địa canh và thủy canh”.

Sau 3 vụ trồng thử nghiệm, năng suất khoai tây của ông Cường cao hơn 5 lần so với cách trồng thông thường và đã tiết kiệm được 90% lượng nước, trên 50% lượng phân bón, và hầu như không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Ông Cường tiết lộ: “Sắp đến, tôi sẽ tiếp tục thử nghiệm mô hình khí canh này trên một số cây trồng khác”.

“Sự thành công của mô hình khí canh mở ra một hướng sản xuất mới theo mô hình sản xuất sạch và phù hợp với môi trường đô thị” – GS-TS Nguyễn Quang Thạch cho biết.
Theo Lao động

13 tháng 8, 2010

“Không Khuyến Khích Doanh Nghiệp Đi Bán Hàng Lưu Động”

Nhiều chuyên gia chung quan điểm, sau khi đem sản phẩm giới thiệu ở những vùng sâu xa, doanh nghiệp nội phải chủ động tạo chân rết phân phối cho mình, chứ không phải dừng lại ở việc đi bán hàng lưu động.

hàng Việt về nông thôn
Các hệ thống siêu thị ngày càng phát huy vai trò của mình trong việc đưa hàng từ nhà sản xuất nội đến người tiêu dùng một cách trực tiếp và nhanh chóng nhất - Ảnh: N.N

Chương trình đưa hàng Việt về nông thôn được thực hiện bởi Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) trong hơn 1 năm nay đã tổ chức được 46 phiên chợ đưa hàng Việt về các vùng sâu, xa khắp trong Nam ngoài Bắc.

Với đó, tổng doanh số của các doanh nghiệp tham gia, theo thông báo đã đạt khoảng 31 tỷ đồng, thu hút trên 600.000 lượt người dân tham gia mua sắm.

Song tổng kết giai đoạn 1 của chương trình, bà Vũ Kim Hạnh – Giám đốc BSA cho rằng, điều đáng mừng không nằm ở mức tăng của doanh số, mà chính là việc doanh nghiệp đã tự đứng ra tổ chức thị trường nông thôn của mình.

Bằng chứng là nhiều doanh nghiệp vẫn tiếp tục trên con đường đưa hàng Việt đến với đông đảo bà con hơn bằng cách tăng thêm đội ngũ nhân lực, sắm thêm xe và các thiết bị chuyên dụng, vừa đi vừa quảng bá hình ảnh, giới thiệu và bán sản phẩm.

Sau khi gặp gỡ, tiếp xúc, trực tiếp nắm bắt, ghi nhận được các yêu cầu, thị hiếu của bà con, nhiều doanh nghiệp đã cho ra đời những sản phẩm, thiết kế mới, phù hợp với nhu cầu thị trường. Ngoài ra, việc đưa hàng về vùng sâu, xa cũng chính là một cuộc “khám sức khoẻ” đối với mạng lưới phân phối của doanh nghiệp.

Bà Kim Hạnh nói: “Doanh nghiệp có thể đi bán lưu động, nhưng chúng tôi không khuyến khích hình thức này, mà ở đây chủ yếu mang ý nghĩa đưa hàng giới thiệu, tiếp cận thị trường ở những vùng sâu xa nhất, qua đó thiết lập, củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa nhà sản xuất và nhà phân phối sở tại”.

Tâm niệm “chỉ có xây dựng chuỗi tiếp thị, phân phối thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới bền vững”, ông Vũ Vinh Phú – Chủ tịch Hội Siêu thị Hà Nội cũng chỉ ra, về lâu dài không phải chúng ta cứ đi theo mô hình đưa hàng đi bán lưu động, bán xong là xong, khi người tiêu dùng cần mua thì không biết tìm ở đâu, mà phải là tạo chân rết, mạng lưới bán lẻ ở thị trường nông thôn.

Việc cần làm hiện nay là tăng cường khả năng phối hợp, liên kết giữa các nhà sản xuất, nhà phân phối bán buôn, bán lẻ, các siêu thị trong việc đưa hàng về các thị trường xa xôi hẻo lánh để không bị trừng lặp, gây lãng phí thời gian, công sức, chi phí vận chuyển lưy thông. Tiếp theo phải tiết giảm chi phí, tận dụng đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ ở địa phương để bán hàng Việt cho các khu vực này. Đồng thời thường xuyên theo sát, nắm bắt và đảm bảo nhu cầu của người tiêu dùng sở tại.

Muốn vậy, nhà sản xuất phải nhận thức trước tiên về việc cải tiến mẫu mã, nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm; tính toán xây dựng một cơ chế tích luỹ kinh phí xúc tiến thương mại hàng Việt ngay từ trong mỗi doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả công tác này.

Còn về phía nhà nước, cần hỗ trợ doanh nghiệp nội về cơ chế, chính sách, tài chính, đất đai nhằm phát triển các khu siêu thị và hệ thống hạ tầng bán lẻ. Siết chặt và làm hiệu quả hơn công tác quản lý thị trường, chống hàng lậu, giả, nhái. Đặc biệt, Nhà nước – bộ máy chi tiêu, mua sắm rất lớn cần phải gương mẫu đi đầu trong ưu tiên tiêu dùng hàng Việt – ông Phú khuyến nghị.
Theo Vietnamnet

11 tháng 8, 2010

Hàng Việt “Vấp” Rào Cản... Hạ Tầng

Đã có nhiều ý kiến đổ lỗi cho các doanh nghiệp nội chưa đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng song có một thực tế là hàng Việt đang phải đối mặt với những rào cản rất lớn từ hệ thống hạ tầng cơ sở để đến tay khách hàng.

sữa Nutifood
Người dân mong chờ hàng Việt có chất lượng xuất hiện thường xuyên ở nông thôn (ảnh minh họa).

Khó mở rộng mặt bằng vì giá thuê cao

Nếu như thời điểm Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO, nhiều người cho rằng việc mở cửa thị trường phân phối bán lẻ là mạo hiểm, mơ hồ thì nay với việc Việt Nam đứng trong Top 10 thị trường bán lẻ hấp dẫn đầu tư trên WTO đã phủ định những lo ngại đó.

Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2010, tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ là 16,12% - đây là con số ngoạn mục khẳng định việc chúng ta mở cửa thị trường này là việc nên làm.

Nói như vậy không có nghĩa chúng ta đã làm chủ trên sân nhà bởi theo nhận định của TS. Đinh Thị Mỹ Loan - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội bán lẻ Việt Nam, hệ thống phân phối bản lẻ của Việt Nam còn sơ khai, các doanh nghiệp hoạt động còn manh mún.

Thời gian gần đây có nổi lên những hệ thống siêu thị phân phối lớn như: Big C, Saigon Coop mart, Intimex, Nguyễn Kim, Vinatexmart… nhưng những siêu thị, hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại có quy mô lớn như vậy chưa nhiều, chưa phủ được mạng lưới rộng.

Thực trạng về cơ sở hạ tầng đầu tư cho bán lẻ còn lạc hậu, chưa được đầu tư thích đáng là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới những bất cập này.

Tại một hội thảo gần đây, bà Loan đưa ra ví dụ: như tại TPHCM, để có được 1 m2 đầu tư cho dịch vụ bán lẻ, doanh nghiệp phải trả tới 65 USD/m2/tháng thuê mặt bằng. Thậm chí nếu muốn được mặt bằng rộng, địa thế đẹp thì giá lên tới 220 USD/m2/tháng.

“Với giá thuê mặt bằng như vậy, liệu có nhiều doanh nghiệp có thể đứng chân và mở rộng được mạng lưới phân phối. Bao giờ doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam mới có thể “cất cánh” được?” - bà Loan lo ngại.

Cùng với siêu thị, chợ truyền thống vẫn là kênh phân phối hấp dẫn. Bởi bên cạnh thói quen mua sắm bắt đầu thay đổi của một bộ phận, thì tập quán mua bán tại các hệ thống chợ truyền thống vẫn được nhiều người Việt ưa thích vì tiện lợi, mặt hàng phong phú.

Tuy nhiên, đáng nói là rất nhiều chợ truyền thống ở những vị trí đắc địa tại các thành phố lớn như Hà Nội, TPHCM đã và đang bị phá đi để thay vào đó là những khu trung tâm thương mại, mua sắm cao cấp. Và cho dù khi xây mới lại, nếu không phải di dời thì việc bố trí khu vực chợ truyền thống tại nơi cũ cũng sẽ bị hạn chế hơn về diện tích...

Nông thôn - tiềm năng lớn nhưng quá khó khăn

Theo nhận định của ông Tolce Drah - chuyên gia nghiên cứu thị trường thuộc Trung tâm thương mại Châu Âu, tiềm năng phát triển thị phần bán lẻ ở khu vực nông thôn Việt Nam rất dồi dào bởi khu vực này đang chiếm tới 60% tổng GDP. Cùng với số lượng gần 64 triệu người, ước đoán số người tiêu dùng ở đây lớn hơn gấp 3 lần khu vực thành thị.

Không khó để nhận ra rằng, dù hàng Việt ngày càng có nhiều khởi sắc cả về chất lẫn về lượng nhưng sự hiện diện của chúng ở khu vực nông thôn vẫn đang có nhiều trở ngại. Lý do là cơ sở hạ tầng (bao gồm hệ thống các chợ, đường giao thông…) phục vụ cho buôn bán còn quá hạn chế.

Theo thống kê, ở nông thôn nước ta bình quân 2 xã mới có 1 chợ, cá biệt như một số vùng phía Bắc, vùng cao ở Tây Nguyên… có khi lên tới 5 xã mới có một chợ.

Trong khi đó, hệ thống giao thông ở các vùng nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa vô cùng yếu kém, ảnh hưởng tới việc tiếp cận giữa hàng hóa Việt có chất lượng với người tiêu dùng ở đây.

Trung tâm nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) cho biết: Có khoảng 10 - 15 doanh nghiệp đang được xem là thành công nhất trong khai thác thị trường nông thôn song doanh số bán ở khu vực này chỉ từ 20 - 25% tổng doanh số của công ty.

Còn với những doanh nghiệp khác trước nay có bán hàng ở nông thôn thì doanh số chỉ chừng 10 - 15%. Sự khó khăn của doanh nghiệp lại chính là cơ hội cho các loại hàng giả, hàng nhái, thậm chí cả hàng ngoại kém chất lượng chiếm lĩnh thị phần.

Điều này lý giải câu nói của ông Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: thách thức lớn nhất đối với hệ thống phân phối bán lẻ trong nước là thể chế và hệ thống hạ tầng cơ sở chưa đảm bảo để thị trường được “êm xuôi”!
Theo Dân trí

2 tháng 8, 2010

Thị Trường Bán Lẻ Việt Nam Tụt Dốc, Vì Sao?

Năm 2008, Việt Nam được AT KEARNEY xếp “ngôi Hậu” trong “làng bán lẻ toàn cầu”, năm 2009 tụt xuống hạng 6. Và năm nay hạng 14, vị trí thấp nhất trong suốt bảy năm xếp hạng vừa qua.

thị trường bán lẻ Việt Nam tụt dốc
Tuy tiềm năng khai thác của thị trường bán lẻ nước ta vẫn còn rất lớn, nhưng đó chỉ mới là “điều kiện cần”, chứ chưa phải là “điều kiện đủ” để hấp dẫn các nhà kinh doanh. Ảnh: L.H.T

Trái ngược với việc thăng tiến hầu như liên tục trong 5 năm 2004 - 2008, hai năm gần đây là giai đoạn tụt dốc quá nhanh của thị trường bán lẻ nước ta.

Cụ thể, bắt đầu với chỉ số số phát triển thương mại toàn cầu (Global Retail Development Index - GRDI) đạt 76 điểm năm 2004, Việt Nam xếp thứ 7; vị trí khiêm tốn nhất năm 2005 cũng là thứ 8; năm 2006 tăng tới 5 bậc để vươn lên vị trí thứ ba; năm 2007 xếp thứ tư và năm 2008 lên đến tột đỉnh vinh quang ở “ngôi Hậu” với 88 điểm, nhưng ngay trong năm 2009 chỉ còn 55 điểm và chỉ được xếp thứ sáu và với 50,2 điểm và vị trí thứ 14 hiện nay chính là mức “đáy”.

Thử nhìn vào các tiêu chí mà tổ chức này dùng làm căn cứ để xếp hạng 30 thị trường bán lẻ mới nổi có sức hấp dẫn nhất trong tổng số 185 quốc gia.

Với 50,2 điểm, độ bão hòa, tức là mức độ “no hàng” của thị trường bán lẻ của nước ta chỉ đứng ở vị trí thứ 15 trong tổng số 30 thị trường. Điều này có nghĩa là, với quy mô của một thị trường tiêu dùng trên 86 triệu dân, hãy còn những “khoảng trống” để các nhà kinh doanh có thể tổ chức khai thác.

Nghĩa là, tuy tiềm năng khai thác của thị trường bán lẻ nước ta vẫn còn rất lớn, nhưng đó chỉ mới là “điều kiện cần”, chứ chưa phải là “điều kiện đủ” để hấp dẫn các nhà kinh doanh.

Do vậy, nguyên nhân quan trọng nhất bị “rớt đài” quá sâu như vậy chính là độ hấp dẫn (market attractiveness) của thị trường bán lẻ nước ta đã bị suy giảm hết sức trầm trọng. Có hai căn cứ chủ yếu sau đây để khẳng định điều này.

Trước hết, chỉ với 12,3 điểm (100 điểm là có sức hấp dẫn cao và 0 điểm là sức hấp dẫn kém), thị trường bán lẻ của chúng ta bị “đội sổ” trong bảng xếp hạng 30 thị trường bán lẻ ở tiêu chí này. Điểm số này cũng chính là mức “đáy” trong suốt 7 năm qua, bởi số điểm cao nhất chúng ta đạt được ở tiêu chí này trong hai năm 2007 và 2008 là 34 điểm; năm 2004 đạt 29 điểm; hai năm 2005 và 2006 cùng đạt 24 điểm; còn năm 2009 vừa qua chỉ còn 16 điểm.

Những điều nói trên có nghĩa là, thị trường bán lẻ nước ta tuy chưa bao giờ được đánh giá cao ở tiêu chí này, nhưng sức hấp dẫn giảm sút quá nghiêm trọng trong năm 2009 và “chạm đáy” trong năm nay chính là “thủ phạm chính”.

Bên cạnh đó, hai yếu tố áp lực thời gian; và rủi ro quốc gia, rủi ro kinh doanh cũng cùng góp phần rất quan trọng trong việc tụt dốc này.

Với 49,4 điểm ở tiêu chí rủi ro quốc gia và rủi ro kinh doanh được lượng hoá qua một loạt các yếu tố như rủi ro chính trị, cải cách kinh tế, chỉ số nợ, chi phí kinh doanh, tình hình vi phạm pháp luật trong kinh doanh, tình hình vỡ nợ..., thị trường bán lẻ của nước ta tuy mất điểm khá nhiều so với hai năm 2004 và 2005 (52 và 54 điểm), đặc biệt là so với hai năm 2007 và 2008 (cùng đạt 54 điểm), nhưng vẫn cao hơn nhiều so với năm 2006 (43 điểm) và càng cao hơn so với mức “đáy” chỉ với 34 điểm trong năm 2009 vừa qua.

Nói tóm lại, tuy không đến nỗi quá bi quan, nhưng do sự “cộng hưởng” của một loạt yếu tố dẫn đến sự tụt hạng rất nghiêm trọng của thị trường nước ta trong “làng bán lẻ toàn cầu” dưới con mắt của các nhà đầu tư nước ngoài.
Theo SGTT

19 tháng 7, 2010

Thị Trường Campuchia: Để Tạo Dấu Ấn Hàng Việt Đậm Nét Hơn

Đi hội chợ triển lãm Expo 2010 của TP.HCM tổ chức tại Phnom Penh (15 – 19.7), thấy hàng Việt Nam được người dân Campuchia mua sắm thật nhiều. Việc cần làm là phải nhanh chóng mở rộng phân phối để phủ hàng Việt Nam trên nhiều địa bàn ở Campuchia.

Thị trường Campuchia: Để tạo dấu ấn hàng Việt đậm nét hơn
Đồ nhựa Việt Nam đang lấn thị phần đồ nhựa Thái Lan.

Để tìm hiểu hiệu quả kinh doanh, khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam, chúng tôi đã đi một vòng Phnom Penh, đến các cửa hàng của doanh nghiệp Việt Nam và gặp gỡ nhà phân phối Campuchia.

Mở rộng phân phối, giữ giá cạnh tranh

Hai cửa hàng của doanh nghiệp tư nhân bánh kẹo Á Châu (ABC) tại Phnom Penh lúc nào cũng có khách Campuchia vào mua đủ loại bánh tươi, bánh mì, bánh kem. Ông Kao Siêu Lực, giám đốc ABC cho biết ông đã đầu tư sang Campuchia ba năm, mở được hai cửa hàng. ABC chọn địa điểm gần các trạm xe Phnom Penh – TP.HCM hoặc gần các khu mua sắm để người Việt hay Campuchia dễ nhìn thấy. ABC có xưởng làm bánh tại cửa hàng, bánh lúc nào cũng nóng và mới nên người Campuchia rất thích.

Theo ông Lực, người điều hành và nhân viên biết nói tiếng bản địa sẽ thuận lợi hơn khi kinh doanh ở Campuchia. Hai cửa hàng ABC có đến 95% nhân viên là người Campuchia, họ được đưa sang huấn luyện tại xưởng của ABC ở TP.HCM. Nhờ biết tiếng Campuchia nên ông dạy nghề và hướng dẫn cách phục vụ khách cho họ rất nhanh. Ông Lực đang chuẩn bị khai trương cửa hàng thứ ba và mục tiêu đạt bảy cửa hàng ABC ở Campuchia vào năm tới.

Công ty Biti’s chỉ có ba cửa hàng tại Phnom Penh, Siem Reap và Battambang để quảng bá thương hiệu, chủ yếu là bán hàng qua nhà phân phối. Dép kiểu Lào bán chạy nhất, một đôi giá 2,5 USD tương đương 50.000 đồng. Ở Campuchia, có 800 điểm nhận bán lẻ giày dép Biti’s, trong đó ở Phnom Penh có 400 điểm. Theo người quản lý cửa hàng, Trung Quốc không là đối thủ, hàng Việt Nam cạnh tranh với Thái Lan nhiều hơn. Mặc dù giá một số mặt hàng Việt Nam đang thấp hơn hàng Thái Lan, nhưng phải chú trọng thay đổi thường xuyên mẫu mã đẹp, giá cạnh tranh hơn nữa để tạo cho người tiêu dùng Campuchia nghĩ sâu rằng hàng Việt Nam tốt bằng hoặc hơn hàng Thái Lan, làm cho họ dùng thật quen hàng Việt thì tương lai sẽ phát triển hệ thống phân phối dễ dàng hơn.

Qua hai năm thăm dò thị trường, công ty bảo vệ thực vật Sài Gòn đã lập chi nhánh tại Phnom Penh. Công ty hiện có 52 đại lý ở các tỉnh, thành Campuchia phân phối các sản phẩm dùng cho nông nghiệp. Ông Lý Văn Minh, giám đốc công ty bảo vệ thực vật Sài Gòn Campuchia cho biết công ty còn liên doanh khai thác mấy chục hecta đất trồng các loại rau sạch, tiêu thụ toàn bộ tại Phnom Penh, đang có kế hoạch mở rộng diện tích trồng thêm hoa, trà. Nhờ nền tảng ban đầu công ty bảo vệ thực vật Sài Gòn đã đạt được, mà hai công ty khác của tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn là công ty thực phẩm Gò Vấp và công ty chăn nuôi – chế biến thực phẩm Sài Gòn thuận lợi khi đưa hàng sang Campuchia theo cùng hệ thống phân phối.

Không thể chủ quan

Theo ông Sophia – nhà phân phối bánh kẹo và nước chấm Việt Nam, người Campuchia thấy mới là thử, nên lúc đầu có thể một sản phẩm nào đó bán rất chạy, sau một thời gian dùng thử, không thấy thích hợp thì họ bỏ. Vì vậy, các doanh nghiệp không nên chủ quan cho rằng hàng ở Việt Nam bán chạy là sang Campuchia được, với thực phẩm phải tìm hiểu khẩu vị của người Campuchia, với hàng tiêu dùng phải biết thị hiếu của họ. Hàng Thái Lan không hẳn chất lượng hơn nhưng đánh đúng khẩu vị, thị hiếu. Điều này có thể dễ nhận thấy nhất qua các sản phẩm của Vinamilk. Sữa Vinamilk không cạnh tranh được với sữa Thái Lan, chỉ có sữa chua Vinamilk được ưa chuộng. Là nhà phân phối, ông Sophia cố gắng tăng thị phần cho hàng Việt Nam. Ông cho biết bánh kẹo Hữu Nghị bán chạy. Hiện ông đang đưa nước mắm Châu Thành của Phú Quốc đi giới thiệu ở các chợ.

Ông Lê Minh, giám đốc công ty Z38 đang chuẩn bị cho siêu thị Việt Nam khai trương vào tháng 9 tới. Ông định hình đây là siêu thị của hàng Việt Nam chất lượng cao, sản phẩm cho giới tiêu dùng từ trung bình đến cao cấp. Ông muốn cho người Campuchia thấy rằng hàng Việt Nam đẹp, sang không thua hàng nước ngoài khác, xài hàng Việt Nam là chứng tỏ đẳng cấp của họ. Ông Minh cho rằng nếu cứ để lẫn lộn hàng bình dân với hàng cao cấp thì hình ảnh hàng Việt Nam khó vượt lên hình ảnh hàng Thái Lan đã ăn sâu vào người Campuchia.

Nhiều doanh nghiệp muốn sang Campuchia, nhưng ngại vì không biết tiếng Campuchia, ngại thủ tục vì mặc dù văn bản luật của Campuchia tốt nhưng việc thực thi luật còn nhiều điều làm doanh nghiệp lúng túng, tốn kém nhiều. Doanh nghiệp rất cần một cơ quan chuyên môn để hỗ trợ về các thủ tục hành chính, thuế. Theo đánh giá chung, Viettel đang phát triển mạnh nhất ở Campuchia, kế đến là ngân hàng Sacombank, BIDV, doanh nghiệp mong họ truyền đạt kinh nghiệm ở thị trường này.

Doanh nghiệp phản ảnh hầu như sang Campuchia phải tự thân vận động. Cả hai hiệp hội Các nhà đầu tư tại Campuchia cũng như hội Doanh nghiệp Việt Nam tại Campuchia đều ra mắt hoành tráng, nhưng sau đó mức độ lắng nghe, hỗ trợ doanh nghiệp còn yếu, tiếng nói của các tổ chức này chưa đủ mạnh để tác động đến các cơ quan chức năng ở Campuchia. Doanh nghiệp cũng rất mong tham tán thương mại tại Campuchia thay vì chỉ ghi nhận những thuận lợi, khó khăn của doanh nghiệp để tổng kết hàng năm, thì hãy tích cực hướng dẫn doanh nghiệp bước đầu vào thị trường.
Theo SGTT

11 tháng 7, 2010

Đừng Quá Hướng Ngoại

Tại hội thảo bàn về những rào cản thương mại đối với các doanh nghiệp xuất khẩu diễn ra vào cuối tháng 6 vừa qua ở Hà Nội, một chuyên gia kinh tế nước ngoài đang làm việc cho UNIDO (Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc) đã nói: “Tôi thấy các bạn (Việt Nam) tổ chức rất nhiều hội thảo về xuất khẩu để tìm cách tiêu thụ sản phẩm ở thị trường nước ngoài nhưng lại ít bàn đến việc làm thế nào tận dụng hết sức tiêu thụ của gần 90 triệu dân nội địa...”

Minh họa: Internet

Quả thật, nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện đang quá tập trung cho thị trường xuất khẩu mà bỏ quên thị trường nội địa. Theo thống kê của nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại Phan Thế Ruệ, tính đến giữa năm 2009, có gần 75% trong tổng số khoảng 350.000 doanh nghiệp trong nước tham gia lĩnh vực sản xuất và phân phối, trong đó rất nhiều doanh nghiệp xuất khẩu từ 65 - 95% sản phẩm ra nước ngoài.

Trong khi đó, thị trường nội địa đầy tiềm năng thì lại đang bị bỏ lửng. May ra có vài thương hiệu “made in Vietnam” được lòng người tiêu dùng nội địa, nhưng trên bảng hiệu của cửa hàng lại ghi dòng chữ nổi bật “Hàng hiệu xuất khẩu” thay vì “Hàng hiệu dành cho người Việt Nam”!

Nếu chỉ nghĩ một cách đơn giản rằng xuất khẩu sẽ thu nhiều lãi hơn do ngoại tệ có giá hơn đồng bản tệ hay cho rằng nền kinh tế dựa vào xuất khẩu mới tốt thì cần phải xem xét lại.

Nhìn vào công thức chung tính GDP = C + I + G + NX, trong đó GDP được coi như thước đo cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia thì rõ ràng bên cạnh đầu tư (I), chi tiêu chính phủ (G) và xuất khẩu ròng (NX), chi tiêu dùng cá nhân hay hộ gia đình (C) đóng vai trò rất quan trọng.

Theo các chuyên gia kinh tế, cần khuyến khích tăng tỷ trọng của C và I thay vì G trong GDP vì sức mạnh nội tại của nền kinh tế mới là yếu tố quyết định sự tăng trưởng bền vững. Trong cơ cấu GDP của hai nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Nhật Bản, C lần lượt chiếm tới hai phần ba và khoảng một phần hai.

Mặc dù Việt Nam vẫn là nước đang phát triển và chi tiêu dùng bình quân mới chỉ đạt mức cơ bản, nhưng các chỉ tiêu về tăng trưởng, thu nhập và chi tiêu vẫn tương đối khả quan. Với dân số gần 90 triệu người, tốc độ tăng trưởng GDP mấy năm trở lại đây luôn đạt từ 5-8%/năm, thu nhập bình quân đầu người khoảng 1.000 đô la Mỹ/năm, chi tiêu bình quân đầu người 1 triệu đồng/tháng, thị trường nội địa được đánh giá là rất nhiều tiềm năng.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn còn khó khăn như hiện nay thì việc khai thác thị trường nội địa bên cạnh xuất khẩu là lựa chọn khôn ngoan. Thứ nhất, doanh nghiệp sẽ không phải đối phó với những rào cản phi thương mại và thương mại khi xuất khẩu hàng hóa. Thứ hai, công tác quảng bá, tiếp thị ở thị trường nội địa sẽ dễ dàng và tiết kiệm chi phí nhiều hơn.

Vấn đề còn lại là nên khai thác thị trường nội địa thế nào cho hiệu quả? Để làm được điều này, các doanh nghiệp cần thực sự coi trọng người tiêu dùng nội địa, thể hiện ở mọi khâu từ nghiên cứu thị trường kỹ lượng để sản xuất và phân phối sản phẩm chất lượng tốt với giá hợp lý cho tới xây dựng thương hiệu mang tính hướng nội... Có như vậy, các doanh nghiệp mới có thể khơi gợi và dẫn dắt nhu cầu của người tiêu dùng trên tinh thần đề cao lòng tự hào dân tộc.
Theo TBKTSG

4 tháng 7, 2010

Hàng “Made In Vietnam”: Nhìn Nhận Khác, Hành Động Cũng Khác

Báo cáo khảo sát về môi trường kinh doanh lần thứ 3 vừa được Tập đoàn nghiên cứu thị trường Nielsen Việt Nam công bố, đã đưa ra những khuyến nghị về cách thức mới trong tiếp cận người tiêu dùng.

Ảnh minh họa

Theo báo cáo này, các lãnh đạo cấp cao trong doanh nghiệp kỳ vọng ngành kinh doanh mà họ đang hoạt động sẽ đạt mức tăng trưởng cao hơn trong 12 tháng tới. Tính đến nay, hầu hết doanh nghiệp đã đạt chỉ tiêu sản xuất kinh doanh ở mức cao hơn rất nhiều so với nửa cuối năm 2009 (86% so với 70%).
Từ thay đổi thói quen tiên dùng

Tinh thần lạc quan của các doanh nhân tại Việt Nam tiếp tục bỏ xa những thị trường khác khi họ kỳ vọng mức tăng trưởng của doanh nghiệp sẽ cao gần gấp đôi so với mức tăng trưởng GDP trong năm 2010. Theo ông Darin Williams, Tổng Giám đốc Nielsen Việt Nam, bất chấp niềm tin của người tiêu dùng giảm nhẹ trong thời gian gần đây, các doanh nhân hy vọng doanh nghiệp của họ sẽ đạt mức tăng trưởng hai con số. Điều này hoàn toàn có cơ sở bởi doanh nghiệp đang tuyển dụng thêm nhân viên và luôn tìm kiếm những giải pháp kinh doanh để đạt mục tiêu tăng trưởng đã đề ra.

Sau hơn một năm gồng mình vượt qua cơn bão khủng hoảng kinh tế toàn cầu, những mối quan tâm hiện nay của người làm kinh doanh (xếp theo thứ tự từ cao đến thấp) chính là: Áp lực tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh và cạnh tranh từ các đối thủ trong ngành; Khả năng tăng giá và lạm phát. Trong khi đó, mối quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng hiện nay chính là sức khỏe, giá thực phẩm tăng và giá điện nước tăng. Trong kinh doanh, đáp ứng đúng nhu cầu của người tiêu dùng là chìa khóa giúp doanh nghiệp phát triển. Với thái độ của người tiêu dùng hiện nay, các sản phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên, tốt cho sức khỏe sẽ là lựa chọn hàng đầu của họ. Những áp lực trong chi tiêu sinh hoạt hàng ngày cũng khiến họ quan tâm về giá nhiều hơn khi đi mua sắm (dĩ nhiên sản phẩm vẫn đảm bảo chất lượng). Theo khảo sát của Nielsen, trong 6 - 12 tháng tới, người tiêu dùng sẽ tiếp tục mua những sản phẩm có kích cỡ bao bì lớn hơn, mua hàng khuyến mãi nhiều hơn và đi mua sắm ở nhiều kênh để có nhiều lựa chọn về giá hơn (mua ở siêu thị, cửa hàng tiện lợi, chợ truyền thống...).

Một sự thay đổi quan trọng nhất của người tiêu dùng tại Việt Nam là chuyển từ mua sản phẩm cao cấp sang mua những sản phẩm trong nước và “nghiện khuyến mãi”. Những ngành hàng chịu ảnh hưởng mạnh (tích cực lẫn tiêu cực) từ xu hướng này chính là: nước giải khát, chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp. Đây là cơ hội cho doanh nghiệp trong nước chiếm lĩnh và củng cố vị thế trên sân nhà trước sự “xâm thực” của các sản phẩm đến từ những tập đoàn đa quốc gia. Vì lẽ đó, doanh nghiệp cần cải tiến công nghệ để đưa ra những sản phẩm có chất lượng, giảm biên độ lợi nhuận để có thêm nhiều người mua. Điều này cũng góp phần giúp doanh nghiệp đạt mức tăng trưởng nhanh hơn, tạo đà cho các mục tiêu thị trường khác.

Đến con đường tăng trưởng chiến lược

Hiện nay, theo khảo sát của Nielsen Việt Nam, doanh nghiệp đang xem thị trường nông thôn là phần quan trọng trong các mục tiêu tăng trưởng của họ. Trên thực tế, doanh nghiệp trong nước đang tiến về những thị trường mà họ đã lãng quên trước đây bằng cách đưa hàng về tỉnh lẻ, vùng sâu vùng xa trong chương trình hàng Việt về nông thôn. Cuộc vận động người Việt ưu tiên dùng hàng Việt đang mang lại những kết quả tích cực khi người tiêu dùng nông thôn vẫn dang tay đón nhận những cái tên như kem đánh răng Dạ Lan, nhôm Kim Hằng... Rõ ràng, người Việt yêu quý hàng Việt.

Những khuyến nghị đối với doanh nghiệp

Doanh nghiệp Việt cần làm gì để đạt được mục tiêu tăng trưởng trong năm 2010? Theo Nielsen Việt Nam, có thể có những giải pháp như sau:

Về sản phẩm: Theo khảo sát về thái độ người tiêu dùng đối với hàng Việt của công ty nghiên cứu thị trường FTA, 82% người chọn hàng nội vì giá vừa phải, 68% người chọn hàng nội vì chất lượng chấp nhận được. Từ những thực tế trên, duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm là nhiệm vụ đầu tiên của doanh nghiệp trong nước vì đây là lý do thuyết phục người dân dùng hàng Việt. Giá cả sản phẩm phải hợp lý vì thu nhập của người dân nông thôn và thành thị còn chênh lệch khá cao.

Chăm sóc khách hàng: Theo điều tra về thái độ của nhà bán lẻ đối với người tiêu dùng của Hiệp hội Tiêu chuẩn và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Vinastas), 62% người tham gia khảo sát công nhận họ từng mua nhầm hàng giả, kém chất lượng. Khi người tiêu dùng phát hiện và hoàn trả sản phẩm, có đến 31% vụ việc không được giải quyết và 49% chủ cửa hàng đồng ý đổi sản phẩm chứ không hoàn tiền. Cuộc điều tra trên cũng cho thấy, 42% chủ cửa hàng tỏ ý khó chịu khi người tiêu dùng yêu cầu bảo hành. Những con số nói trên đã lý giải một phần nguyên nhân người tiêu dùng dễ quay lưng với sản phẩm (doanh nghiệp trong nước và nước ngoài) là do không thỏa mãn nhu cầu của họ. Vì lẽ đó, chế độ hậu mãi là vấn đề cần được cải thiện.

Quản trị kênh phân phối: Điều tra của Vinastas cho thấy, doanh nghiệp trong nước cần quản trị chặt chẽ hệ thống phân phối, bán lẻ nếu muốn củng cố lòng trung thành của người tiêu dùng. Quản trị kênh phân phối tốt cũng giúp nhà sản xuất có chính sách hậu mãi phù hợp, giúp giữ chân khách hàng vì người tiêu dùng sẽ trở lại nếu họ được tôn trọng.

Ngoài ra, doanh nghiệp trong nước cần đẩy mạnh bán hàng ở nông thôn để tìm hiểu thị trường, thói quen mua sắm của người dân. Thay vì chỉ bán hàng, doanh nghiệp nên tổ chức những buổi tọa đàm về cách bán hàng, tổ chức quầy kệ, trưng bày hàng hóa cho các chủ tiệm tạp hóa. Đây là lực lượng nòng cốt trong kênh phân phối của doanh nghiệp ở vùng sâu, vùng xa, nơi tiệm tạp hóa là nơi mua sắm hàng hóa chủ yếu của người dân.

Truyền thông: Với người dân nông thôn, quảng cáo cũng là cách họ có thêm kiến thức tiêu dùng. Các doanh nghiệp cần chọn hình ảnh gần gũi với đời sống, ngôn từ dễ hiểu khi dùng truyền thông đại chúng để tiếp cận người dân nông thôn. Ngoài ra, tần suất của các chương trình truyền thông cũng cần theo kiểu “mưa dầm thấm đất” với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương.

Khoảng 2/3 dân số Việt Nam đang sống ở nông thôn, đồng nghĩa với một thị trường có gần 60 triệu người tiêu dùng. Doanh nghiệp Việt tiến về nông thôn là điều hợp lý. Chiếm lĩnh được số đông sẽ tạo lợi thế lớn cho doanh nghiệp Việt Nam “đánh ngược” về thành thị. Với sự ủng hộ của người tiêu dùng hiện nay, doanh nghiệp trong nước sẽ tạo được thế cân bằng trên thị trường trong vài năm tới.
Theo Xaluan

18 tháng 6, 2010

Thương Mại Điện Tử: Không Để Doanh Nghiệp Tự “Bơi”

Thương mại điện tử (TMĐT) là công cụ không thể thiếu của DN trong môi trường kinh tế hội nhập toàn cầu hiện nay. Nhưng, đa phần DN miền Trung lại khá thờ ơ với TMĐT. Có nhiều nguyên nhân, trong đó nếu để DN tự “bơi” với TMĐT thì chắc chắn họ không mặn mà.

Minh họa: Internet

Nắm lấy “vũ khí”

Ông Trần Hữu Linh – Phó Cục trưởng Cục TMĐT và Công nghệ thông tin - Bộ Công Thương cho biết, TMĐT như là thứ vũ khí đặc biệt của DN trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay.

DN nào nắm được “vũ khí” này sớm, thì khả năng thành công sẽ cao hơn. Đặc biệt, sau khủng hoảng kinh tế, vấn đề DN buộc phải quan tâm là cắt giảm chi tiêu, đầu tư, đồng thời tìm kiếm thị trường, khách hàng mới. Con đường tìm kiếm đối tác nhanh, hiệu quả đồng thời giảm chi tiêu tốt nhất, chính là thông qua TMĐT. Đây là phương thức kinh doanh mới với DN miền Trung, nhưng là phương thức cơ bản trong thời gian không xa.

Bởi, nó giúp DN nâng cao sức cạnh tranh, tiết kiệm được thời gian, chi phí. Ông Linh dẫn chứng, hiện 98% DN có kết nối internet, trong đó có 37,6% có web. Tuy vậy, chỉ có 12% DN tham gia sàn TMĐT. Con số 12% là thấp, nhưng gần 70% trong số đó khẳng định đã tìm kiếm được hợp đồng và làm ăn hiệu quả thông qua TMĐT; 60% DN khẳng định doanh thu qua các phương tiện điện tử tăng, 33% khẳng định doanh thu không đổi. Từ số liệu đó chứng tỏ rằng, khả năng làm ăn, ký kết hợp đồng bằng TMĐT không phải khó khăn gì với DN.

Vấn đề là DN phải biết chú trọng, quan tâm đầu tư đến bó. Đồng thời phải cởi bỏ quan niệm “mua tận mặt, bán tận tay” như lâu nay thì mới tạo độ tin cậy. Với DN hiện đại, trong môi trường kinh doanh hiện đại, việc thực hiện giao dịch TMĐT rất đơn giản, mà hiệu quả mang lại rất cao.

Đặc biệt, vấn đề DN lo lại là độ xác tín của hợp đồng TMĐT, giao dịch TMĐT thì nay được khẳng định chắc chắn với những công nghệ hiện đại. Chẳng hạn như chữ ký điện tử, thanh toán điện tử, thông quan điện tử, nộp thuế qua mạng, thẩm định giá trị, thủ tục, hồ sơ qua hệ thống quản lý Nhà nước về TMĐT…

Hiện, chúng ta có 13,4 triệu thẻ thanh toán điện tử với 24 ngàn máy POS; có các dịch vụ công trực tuyến mạnh như Hải quan điện tử (Bộ Tài chính); Chứng nhận xuất xứ điện tử (Bộ Công thương); Mua sắm chính phủ (Bộ Kế hoạch và đầu tư)…

Cần giải pháp đồng bộ

Phát triển TMĐT nếu chỉ phó mặt và coi đó là nhiệm vụ của DN thôi thì chưa đủ. Quan trọng hơn, để TMĐT phát triển thì cần nhiều giải pháp đồng bộ. Cụ thể như nhân lực CNTT, nhận thức về TMĐT, hệ thống thanh toán, hạ tầng ICT, pháp lý, môi trường xã hội và tập quán kinh doanh…

Ông Lại Việt Anh - Trưởng phòng Pháp chế - Cục TMĐT và CNTT Bộ Công Thương cho biết, mục tiêu phát triển TMĐT giai đoạn 2011-2020 là 100% DN tham gia sàn giao dịch TMĐT. Trong đó, 80% DN có web và cập nhật thông tin thường xuyên về sản phẩm, 70% DN tham gia các web TMĐT để mua bán hàng hóa, dịch vụ.

Bên cạnh đó, người tiêu dùng tham gia TMĐT cũng được hỗ trợ phát triển nhiều tiện ích. Chẳng hạn 40% siêu thị và các cơ sở phân phối hiện đại cho phép người tiêu dùng sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt khi mua hàng; 50% các đơn vị kinh doanh dịch vụ điện, nước, viễn thông và truyền thông chấp nhận thanh toán phí dịch vụ qua phương tiện điện tử; 30% các cơ sở kinh doanh trong lĩnh vực thương mại dịch vụ vận tải, văn hóa, thể thao và du lịch phát triển các kênh giao dịch điện tử phục vụ người tiêu dùng…

Rõ ràng, TMĐT không chỉ bó hẹp giữa các DN với nhau mà còn liên quan đến người tiêu dùng, hệ thống các nhà phân phối sản phẩm, dịch vụ và các cơ quan công quyền Nhà nước.

Theo ông Phạm Kim Sơn – Giám đốc Sở Thông tin và truyền thông Đà Nẵng, hạ tầng CNTT cũng như nguồn nhân lực, hệ thống dịch vụ công ở Đà Nẵng phát triển mạnh, đủ sức để thúc đẩy mục tiêu phát triển TMĐT.

Tuy nhiên, vấn đề còn lại, vẫn là nhận thức của DN, sự quyết tâm của các đơn vị, ban nghành liên quan. Trong những năm qua nghành CNTT của Đà Nẵng luôn duy trì mức tăng trưởng hơn 30%/ năm. Thành phố hiện có hơn 95 ngàn thuê bao internet các loại, với tỷ lệ hơn 38% người sử dụng.

Hiện có hơn 4.000 người lao động trong DN CNTT trong đó hơn 70% là trình độ đại học, sau đại học. Đặc biệt Đà Nẵng có gần 600 DN, cơ quan viện nghiên cứu CNTT. Ngoài ra, với 62900 máy tính trong các doanh nghiệp với 74% DN kết nối internet bằng băng chuyền rộng…là con số ấn tượng.

Với thực trạng như vậy , việc phát triển TMĐT ở Đà Nẵng là có nhiều thuận lợi. Tuy nhiên, ở đây, vẫn còn những tồn tại nhất định ngay từ trong các doanh nghiệp. Chẳng hạn như trang thiết bị CNTT của DN chưa được đầu tư đồng bộ, hạ tầng về bảo mật, an ninh mạng, web chưa được quan tâm đúng mức, chưa ứng dụng theo hướng TMĐT.
Theo CA Đà Nẵng

11 tháng 6, 2010

Ý Nghĩa Sau Những Con Số

Kết quả kiểm tra mới đây của Bộ TT&TT về tình hình triển khai cung cấp dịch vụ 3G của các doanh nghiệp viễn thông đã cho thấy số lượng thuê bao 3G đang hoạt động thấp hơn rất nhiều so với những con số thống kê mà các mạng di động công bố trước dư luận.

Ảnh minh họa.

Nếu như vào khoảng tháng 3/2010, VinaPhone – mạng di động đầu tiên cung cấp dịch vụ 3G tại Việt Nam – hoành tráng công bố đã hút được 7 triệu thuê bao 3G đăng ký, MobiFone - nhà mạng thứ 2 cung cấp dịch vụ 3G – tự tin tiết lộ có gần 6 triệu thuê bao 3G đăng ký và Viettel ngay ở thời điểm khai trương mạnh dạn khẳng định có được khoảng 1 triệu thuê bao 3G, thì trên thực tế kiểm tra của Bộ TT&TT (theo báo điện tử VietnamNet đăng ngày 9/6/2010), số lượng thuê bao 3G của VinaPhone, MobiFone và Viettel chỉ có tương ứng là 1,5 triệu, 4 triệu và 1,5 triệu thuê bao.

Độ vênh của những con số từ miệng các nhà mạng công bố với số liệu kiểm tra thực tế cho thấy bệnh “phóng đại”, “khai vống” của các mạng di động Việt Nam vẫn chưa dứt. Căn bệnh này xuất phát và tồn tại từ những cuộc đua không có điểm dừng trong việc thu hút thuê bao di động (đặc biệt là thuê bao trả trước) từ nhiều năm trước, và nếu như không có sự vào cuộc quyết liệt của cơ quan quản lý đóng vai trò kiểm tra, giám sát việc triển khai 3G thì có lẽ dư luận sẽ vẫn bị các nhà mạng che mắt bởi những con số được tô hồng và được nhập nhằng giữa khái niệm thuê bao và số lượt người dùng truy cập mạng 3G.

Nếu như số liệu kiểm tra của Bộ TT&TT đạt độ chính xác cao thì sự vượt trội về số lượng thuê bao 3G của MobiFone so với VinaPhone và Viettel cũng có thể cho thấy rằng một mạng di động có tiếng về chất lượng dịch vụ cũng như tỷ trọng khách hàng thuê bao chịu chi cao thì việc vượt trội về số lượng thuê bao, cho dù không phải là mạng khai trương 3G đầu tiên, cũng là điều dễ hiểu.

Những số liệu thực tế nêu trên cũng cho thấy sau sự hồ hởi khi nhận được giấy phép 3G và sôi nổi triển khai xây dựng hạ tầng mạng, đã đến lúc các mạng di động 3G Việt Nam cần tĩnh tâm nhìn nhận lại và nếu cần thiết thì phải thay đổi phương thức tiếp cận khách hàng và kinh doanh trong môi trường 3G.

Trong cuộc đua ở mạng 3G, người chiến thắng không phải là người nhanh nhất (về tốc độ), người chiếm lượng thuê bao cao nhất hay người bán được nhiều thiết bị (modem) truy cập Internet di động 3G nhiều nhất, mà đó phải là người cung cấp được nhiều dịch vụ nội dung nhất, với chất lượng tốt nhất, mức phí hợp lý nhất và xây dựng được một cộng đồng cùng kinh doanh các dịch vụ nội dung số trên 3G đông đảo nhất, như kinh nghiệm của các quốc gia đã triển khai 3G cho thấy. Nếu nhìn nhận ở góc độ như thế, phải khẳng định rằng Việt Nam chưa có gương mặt sáng giá nào trong cuộc đua 3G hiện nay.

Hàng ngàn tỉ đồng đã được các mạng viễn thông di động Việt Nam đổ vào cuộc chơi mới 3G, một cuộc chơi ít nhiều gây thất vọng cho họ tính đến thời điểm hiện nay. Nhưng đừng vội bi quan, cũng đừng vội đổ lỗi cho thị trường hay người dùng còn thờ ơ với 3G, bởi thị trường Việt Nam, người dùng Việt Nam chưa bao giờ làm thất vọng những ai đã tham gia cuộc chơi viễn thông di động tại nơi đây. 3G Việt Nam giống như một bông hoa hồng, hoa hồng nào mà chẳng có gai, hoa càng thơm gai lại càng nhiều.
Theo ICTNews

9 tháng 6, 2010

Các Nước Bảo Vệ Người Tiêu Dùng Thế Nào?

Luật bảo vệ người tiêu dùng được đưa ra nhằm đảm bảo sự cạnh tranh công bằng và dòng chảy tự do của thông tin xác thực trên thị trường.

Chiều nay (9/6), Quốc hội Việt Nam thảo luận tại tổ về dự Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. VietNamNet giới thiệu luật này ở một số nước trên thế giới:

Vì lợi ích tiêu dùng

Luật này được ban hành tại các nước nhằm ngăn chặn những hành động giả mạo hay bất công từ việc tận thu lợi nhuận giữa các đối thủ cạnh tranh và góp phần bảo vệ những bên yếu hơn, hay không thể tự chăm sóc chính bản thân mình.

Luật bảo vệ lợi ích người sử dụng hàng hóa/dịch vụ. Ảnh minh họa: wordpress

Luật Bảo vệ người tiêu dùng là một hình thức quy định của chính phủ để bảo vệ lợi ích người tiêu dùng. Ví dụ, một chính phủ có thể yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin chi tiết về các sản phẩm, đặc biệt trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp tới an toàn và sức khoẻ con người, như thực phẩm.

Bảo vệ người tiêu dùng liên quan tới “quyền của người tiêu dùng” và việc hình thành các tổ chức tiêu dùng giúp người dân có chọn lựa tốt hơn trên thị trường.

Lợi ích của người tiêu dùng có thể còn được bảo vệ bằng cách thúc đẩy cạnh tranh trên các thị trường phục vụ trực tiếp hay gián tiếp người tiêu dùng, nhưng phải phù hợp với hiệu quả kinh tế. Bảo vệ người tiêu dùng có thể còn được xác nhận thông qua các tổ chức phi chính phủ hay cá nhân như nhà hoạt động vì quyền lợi người tiêu dùng.

Luật Bảo vệ người tiêu dùng bao trùm nhiều chủ đề trách nhiệm sản phẩm, quyền riêng tư, giả mạo, bóp méo sự thật, hoạt động kinh doanh gian lận và những tương tác khác giữa người tiêu dùng/doanh nghiệp.

Luật Tiêu dùng ở các nước và vùng lãnh thổ

Đức: Một bộ trưởng của nội các liên bang chịu trách nhiệm về quyền lợi và bảo vệ người tiêu dùng. Trong nội các của bà Angela Merkel hiện nay, vị trí này do Ilse Aigner đảm nhận. Khi đưa ra cảnh báo công khai về sản phẩm và dịch vụ, cơ quan cảnh báo phải căn cứ theo hiến pháp và tính đến tác động của nó với nhà cung cấp, tới việc bảo vệ tự do kinh tế.

Đài Loan: Luật Bảo vệ người tiêu dùng ở Đài Loan là luật khá đặc biệt nhằm chuyên bảo vệ lợi ích và an toàn của người sử dụng dùng sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp kinh doanh cung cấp. Ủy ban Bảo vệ người tiêu dùng đảm nhận việc giám sát, điều phối và thông báo bất kỳ một sản phẩm/dịch vụ không an toàn nào, đồng thời định kỳ xem xét việc cải tổ quy định luật pháp cho phù hợp thực tế.

Anh: là một quốc gia thành viên EU nên cần tuân thủ chỉ dẫn bảo vệ người tiêu dùng của EU. Luật Tiêu dùng nội địa ban đầu chỉ giới hạn trong phạm vi hợp đồng và các sai phạm có thể dẫn tới việc bồi thường, nhưng với ảnh hưởng luật của EU, luật này đã trở thành một lĩnh vực độc lập.

Luật Bảo vệ người tiêu dùng nhằm giải quyết khi những đơn kiện được gửi tới Tổng giám đốc phụ trách Thương mại công bằng. Văn phòng Thương mại công bằng sau đó sẽ điều tra, áp dụng lệnh cấm hay đưa vấn đề tranh chấp ra tòa án xét xử. Văn phòng Thương mại công bằng còn hành động giống như một tổ chức giám sát cạnh tranh và tiêu dùng chính thức của Anh.

Australia: Cơ quan chịu trách nhiệm là Ủy ban Cạnh tranh và tiêu dùng quốc gia hay các cơ quan phụ trách vấn đề tiêu dùng ở từng bang. Ủy ban Chứng khoán và đầu tư Australia chịu trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng trong các dịch vụ và sản phẩm tài chính.

New Zealand: Cơ quan đảm trách là Bộ Các vấn đề người tiêu dùng và Ủy ban Thương mại New Zealand.

Mỹ: Nước này có nhiều luật cả tiểu bang và liên bang về vấn đề người tiêu dùng. Luật bảo vệ tiêu dùng liên bang chủ yếu do Ủy ban Thương mại liên bang và Bộ Tư pháp Mỹ thực thi. Ở mức tiểu bang, rất nhiều bang có Cơ quan các vấn đề tiêu dùng với những quy định trong các ngành công nghiệp và bảo vệ người tiêu dùng sử dụng hàng hóa/dịch vụ từ những ngành ấy.

California có luật bảo vệ người tiêu dùng mạnh nhất trong các bang của Mỹ, một phần vì sự phát triển mạnh mẽ của các nhóm luật sư và vận động hành lang như Mạng lưới hoạt động vì lợi ích tiêu dùng; Hiệp hội Tiêu dùng California…
Theo Thái An tổng hợp - Vietnamnet

8 tháng 6, 2010

NTD Trung Quốc “Nguội Dần” Với Thương Hiệu Nước Ngoài

Rất nhiều sản phẩm mang thương hiệu quốc tế đã đổ về thị trường khổng lồ Trung Quốc những năm gần đây, đặc biệt khi nước này gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Kinh tế ngày càng phát triển, người tiêu dùng Trung Quốc đã có cái nhìn cân bằng hơn với hàng ngoại nhập. Ảnh: Typepad

Tuy nhiên, có phải mọi thương hiệu nổi tiếng thế giới đã giành được lòng tin từ người tiêu dùng Trung Quốc? Điều này không hoàn toàn đúng sự thực. Trên thực tế, lòng tin vào các sản phẩm nhãn hiệu ngoại nhập của người tiêu dùng Trung Quốc đã giảm dần sau khi có hàng loạt thông tin trên các phương tiện truyền thông về chất lượng sản phẩm.

Hai thanh niên đến từ Hàng Châu, thủ phủ tỉnh Chiết Giang ở phía đông Trung Quốc đã đệ đơn kiện Zhongcui Foodstuff Co Ltd vì sản xuất và tung ra thị trường loại đồ uống Coca-Cola và chứa chất bảo quản sodium benzoate, loại chất được chứng minh có hại cho sức khoẻ con người nếu sử dụng trong thời gian dài.

Bên nguyên đơn cáo buộc nhà sản xuất che đậy gốc hóa chất của chất bảo quản, cướp đi của khách hàng “quyền được biết”. Trường hợp này đã được một tòa án ở quận Giang Can, Hàng Châu tiếp nhận.

Đây chỉ là một trong nhiều ví dụ về việc người tiêu dùng Trung Quốc hoài nghi về chất lượng từ các sản phẩm ngoại nhập. Nhiều ví dụ khác có thể thấy trên báo chí nước này gồm: Những than phiền về chất lượng nhãn hiệu Boshromb Eye Liquid của Mỹ; vụ thu hồi sáu mẫu camera số của Sony; phát hiện quá nhiều iốt trong sữa bột của Nestle dành cho trẻ em; than phiền về chất lượng giày do hãng Clarke ở châu Âu sản xuất…

Mùa xuân năm 2005 trở thành “mùa xuân đen tối” khi hơn 10 nhãn hiệu nổi tiếng, trong đó có Colgate, Carrefour và McDonald’s, phải đối mặt với những vụ kiện tụng về chất lượng sản phẩm. Thậm chí, nhiều người còn cho rằng, dường như các thương hiệu nước ngoài nổi tiếng đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng "Waterloo".

Trong rất nhiều năm sau khi Trung Quốc mở cửa ra thế giới bên ngoài vào cuối những năm 1980, sự tín nhiệm của các thương hiệu nổi tiếng toàn cầu chiếm vị trí cao với người tiêu dùng Trung Quốc. Tuy nhiên, lòng tin này đã bắt đầu suy giảm vì những vấn đề chất lượng xảy ra gần đây.

Tân Hoa xã và mạng Sina đã tiến hành một cuộc thăm dò trực tuyến với nội dung hỏi người tiêu dùng rằng: "Bạn còn tin tưởng nhiều vào các thương hiệu nước ngoài?”. Trong số 2.477 người được hỏi, có 48,73% “thờ ơ về chất lượng” do những trải nghiệm không hài lòng khi sử dụng sản phẩm ngoại nhập.

36,79% khẳng định vẫn “có niềm tin vào chất lượng” với niềm tin rằng, kể cả khi những vấn đề về chất lượng gia tăng thì những công ty đa quốc gia sẽ có biện pháp thu hồi sản phẩm khiếm khuyết hoặc hủy bỏ sản phẩm chưa tiêu thụ. Theo ý kiến những người tham gia thăm dò, ở chiều hướng ngược lại, một nhà sản xuất trong nước lại miễn cưỡng làm việc này, trừ phi bị báo chí phanh phui.

Hơn 80,38% người được hỏi có quan điểm rằng “một số thương hiệu nước ngoài nổi tiếng phân biệt đối xử và bắt nạt người tiêu dùng tại Trung Quốc”.

Ông Vương, một khách hàng ở Thạch Gia Trang, Hà Bắc (phía bắc Trung Quốc) nói, trước đây, ông không tin vào các sản phẩm nội thất trong nước và thường mua nhãn hiệu của Nhật Bản. Nhưng vài năm nay, ông đã thấy cách phân biệt đối xử với người tiêu dùng tại Trung Quốc. Ông Vương đưa ra ví dụ bạn ông mua một chiếc camera của Nhật và bị trục trặc, nhưng không nhận được bảo hành thích hợp từ phía nhà sản xuất.

Diệp Nguyên Xuân thuộc Hội đồng Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của tỉnh Chiết Giang nói, có ba nguyên nhân chính dẫn tới những hoài nghi về chất lượng sản phẩm đối với thương hiệu ngoại nhập. Một là các nhà sản xuất địa phương những thương hiệu đó không hoạt động đúng luật. Thứ hai, thiếu sự giám sát từ phía chính quyền và thứ ba là lòng tin mù quáng vào nhãn hiệu ngoại nhập của người tiêu dùng Trung Quốc.

Tại Bắc Kinh, giáo sư Thái Tiểu Khánh của ĐH Luật và khoa học chính trị Trung Quốc nói, khi các vấn đề gia tăng, các hãng nước ngoài nên phản ứng mau lẹ, tìm hiểu và giải thích, làm rõ lỗi sản phẩm, áp dụng những biện pháp làm giảm tác động tiêu cực tới người tiêu dùng. Đồng thời, họ cũng nên thông báo cho cơ quan hữu quan.

Theo ông Thái, các công ty được tự do thông qua các chính sách khác nhau trong việc quảng cáo sản phẩm tại Trung Quốc, châu Âu và Bắc Mỹ, nhưng hoàn toàn không nên thực hiện cái gọi là “hai chuẩn". Với những sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ con người và bảo vệ môi trường (như mỹ phẩm hay thực phẩm), một chuẩn thống nhất cần được áp dụng ở tất cả các nước.

Với loại sản phẩm ít ảnh hưởng hơn, tỉ lệ giá cả - chất lượng nên được duy trì. Nghĩa là sản phẩm chất lượng cao sẽ có giá thành cao. Hơn nữa, người tiêu dùng cũng cần được cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về sản phẩm.

Thạch Đông Dư, Giám đốc Học viện Báo chí thuộc Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc chỉ ra rằng, với sự phát triển kinh tế nhanh chóng những năm qua, tâm lý người tiêu dùng đã chuyển từ tôn sùng mù quáng các thương hiệu nước ngoài nổi tiếng sang một cách nhìn cân bằng hơn.

Nhiều chuyên gia khác thì nhấn mạnh, tất cả các hãng sản xuất đều hướng tới mục tiêu tối đa lợi nhuận, nên tạo ra sự rủi ro khi đặt niềm tin vào “lương tâm” tập đoàn. Vì thế, để bảo vệ người tiêu dùng, cần cải tổ khẩn cấp các cơ quan kiểm tra và giám sát chất lượng tại Trung Quốc.
Thái An - Vietnamnet (Theo Atimes)

31 tháng 5, 2010

Xuất Nhập Khẩu Nông Sản: Cần Có Cơ Chế Quản Lý Hiệu Quả

Những tháng đầu năm 2010, tình hình xuất khẩu nông sản của chúng ta không thuận lợi, lúa gạo, càphê rớt giá tới mức Chính phủ phải chỉ đạo doanh nghiệp mua tạm trữ để tránh thiệt hại cho nông dân. Theo nhiều chuyên gia, nguyên nhân sâu xa của tình trạng trên là do những bất cập từ cơ chế điều hành, quản lý xuất - nhập khẩu.

Bốc xếp nông sản XK tại cảng Quy Nhơn (Bình Định).

Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực sụt giảm

Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, giá trị xuất khẩu XK của ba nhóm hàng nông, lâm, thủy sản tăng mạnh trong tháng 4 đã kéo tổng kim ngạch XK của nhóm hàng này trong 4 tháng đầu năm 2010 tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2009, đạt 5,6 tỷ USD. Trong đỏ, nông sản đóng góp hơn 3 tỷ USD, thủy sản 1,2 tỷ USD, lâm sản 1,1 tỷ USD. Tuy nhiên, sự tăng trưởng đạt được chủ yếu nhờ sự tăng giá của những mặt hàng nông sản thứ yếu, trong khi những nông sản XK chủ lực như gạo, càphê, cao su, điều... đều rơi vào cảnh ế ẩm và rớt giá. Trong quý I/2010, kim ngạch XK các mặt hàng nông sản chính chỉ đạt 1,9 tỉ USD, giảm 11% so với cùng kỳ năm 2009.

Đối với gạo, mặc dù Hiệp hội Lương thực Việt Nam luôn khẳng định, triển vọng XK năm 2010 rất lạc quan, nhưng thực tế cho thấy tổng lượng gạo XK trong quý I chỉ đạt 1,2 triệu tấn, giảm 30% về lượng và 16,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2009. Thông thường, XK gạo những tháng đầu năm rất sôi động. Tuy nhiên, năm nay, thị trường có sự đảo chiều, giá thu mua lúa gạo giảm và điệp khúc buồn “được mùa mất giá” lại diễn ra.

Ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và PTNT) nhận định, khả năng đột phá của gạo là rất khó, bởi giá nguyên liệu, vật tư đầu vào tăng cao kéo chi phí sản xuất tăng lên. Diện tích canh tác không tăng, thậm chí còn giảm, trong khi đó, biến đổi khí hậu kèm thiên tai có thể gây hậu quả nghiêm trọng.

Đặc biệt, XK càphê sụt giảm mạnh cả về lượng và giá trị. Tổng lượng càphê xuất khẩu trong 4 tháng đầu năm chỉ đạt 465.000 tấn, thu về 651 triệu USD, giảm 16% về lượng và 21% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo Hiệp hội Càphê - Ca cao Việt Nam, từ đầu năm đến nay, giá càphê XK đã thấp hơn khoảng 140 USD/tấn so với cùng thời điểm năm 2009. Sự sụt giảm của giá càphê thế giới khiến giá thu mua càphê trong nước ở mức thấp nhất trong nhiều năm qua (khoảng 21.000 đồng/kg). Không chỉ nông dân, cả người thu mua càphê cũng lâm vào cảnh lao đao. Sau khi có chủ trương hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu càphê mua tạm trữ 200.000 tấn, gần đây giá càphê đã nhích lên khoảng 25.000 đồng /kg càphê nhân xô, thị trường thế giới cũng có những chuyển động tích cực song đến lúc này, người trồng càphê đã lĩnh đủ những hệ lụy của việc rớt giá vì không còn càphê để bán.

Cần đổi mới cơ chế quản lý

Trong khi xuất khẩu gặp khó khăn thì nhập khẩu vật tư nông nghiệp và một số nông sản tăng mạnh, với kim ngạch nhập khẩu 4 tháng đầu năm đạt 5 tỷ USD, tăng 77%. Điều này liệu có hợp lý khi Việt Nam được coi là quốc gia sản xuất, xuất khẩu nông sản hàng đầu. Các chuyên gia cho rằng, việc thiếu chủ động trong xây dựng các hàng rào kỹ thuật cần thiết là nguyên nhân chính khiến nhiều mặt hàng vật tư nông nghiệp, nông sản của nước ngoài có điều kiện thâm nhập thị trường nội địa.

Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT cho thấy, trong tháng 4/2010, tổng giá trị nhập khẩu các mặt hàng nông sản, vật tư nông nghiệp, nguyên liệu chế biến là 1,5 tỷ USD. Theo đỏ, cao su và bông là 2 mặt hàng có giá trị nhập khẩu tăng mạnh, gấp đôi so với cùng kỳ năm 2009.

Một vị lãnh đạo của Bộ Nông nghiệp và PTNT lý giải, việc nhập khẩu nguyên phụ liệu là cần thiết để đáp ứng nhu cầu sản xuất của các DN chế biến, xuất khẩu. Đơn cử, với mặt hàng đồ gỗ, hiện nguồn nguyên liệu trong nước mới đáp ứng được khoảng 20%, còn lại phụ thuộc vào nhập khẩu.

Nhưng có một nghịch lý là, nhiều mặt hàng sản xuất trong nước hoàn toàn có khả năng đáp ứng tiêu dùng nội địa như mía đường, song trong 4 tháng đầu năm, chúng ta vẫn nhập khẩu đường với số lượng lớn.

Theo ông Trần Đức Tụng, chuyên gia cao cấp của ngành nông nghiệp, việc nhập khẩu nguyên phụ liệu nông sản, vật tư nông nghiệp cần phải có hàng rào kỹ thuật, không thể nhập khẩu ồ ạt những mặt hàng không thiết yếu như hiện nay. Cùng với đó, cần phải có chính sách đồng bộ để thúc đẩy các ngành hàng sản xuất trong nước, nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm để tăng sức cạnh tranh...

Không thể hoàn toàn đổ lỗi cho nguyên nhân khách quan là thị trường diễn biến phức tạp, rõ ràng những bất cập từ nội tại của việc quản lý, điều hành XK đang đưa nông sản Việt Nam vào thế khó và việc chính các DN tự ghìm chân nhau đã khiến nông sản Việt mất dần vị thế.

Một chuyên gia của ngành nông nghiệp cho rằng, cần thẳng thắn thừa nhận sự yếu kém trong việc quản lý điều hành XK hiện nay. Hầu hết nông sản Việt Nam được XK dưới dạng thô, nhưng ngay cả ở dạng thô, các DN cũng đang làm giảm giá trị sản phẩm khi có quá nhiều DN tham gia XK một ngành hàng, trong khi cơ chế quản lý cũng như tiêu chuẩn, quy chuẩn về chất lượng đối với mỗi mặt hàng lại chưa được đề ra.

Lấy ví dụ ngành chè, hiện sản lượng chè XK không lớn nhưng cả nước có tới hơn 620 DN chế biến chè XK. Sự manh mún đã kéo chất lượng, phẩm cấp và kéo luôn giá chè thụt lùi. Bên cạnh đó, sự yếu kém trong công tác phân tích dự báo thị trường cũng khiến các mặt hàng nông sản XK của Việt Nam luôn gánh phần thua thiệt.

Chính vì thế, các chuyên gia cho rằng, để các mặt hàng XK ổn định, chúng ta cần có một định hướng chiến lược, thể hiện bằng cơ chế quản lý cụ thể với mục đích lành mạnh hóa thị trường XK, tạo dựng và khẳng định vị thế và hiệu quả XK, từ đó bình ổn sản xuất.
Theo Kinh tế nông thôn

29 tháng 5, 2010

Tã Trẻ Em: Không Đơn Giản!

Đối với trẻ sơ sinh, ngoài yếu tố dinh dưỡng là sữa, tã lót đóng vai trò rất quan trọng vì nó gắn bó với bé từ khi mới chào đời. Việc chọn đúng loại tã thích hợp sẽ giúp các bà mẹ chăm sóc con tốt hơn. Tuy nhiên, giữa “ma trận” tã lót hiện nay, việc chọn lựa không đơn giản chút nào!“

Chọn tã cho con, loại nào bây giờ?....

Hoa mắt” trước thị trường tã giấy

Khi chào đón đứa con đầu đời, chị Trần Huyền Diệu ở 32 Ngô Bệ, quận Tân Bình, TPHCM, lo lắng vì chưa biết chọn loại tã nào cho con giữa rất nhiều các nhãn hiệu tã khác nhau, từ nhập khẩu cho đến hàng sản xuất trong nước.

Hầu hết các loại tã na ná giống nhau, không có gì nổi trội nên cũng không dễ dàng lựa chọn. Khi biết được thông tin sản phẩm tã giấy Bobby Fresh Newborn là loại tã giấy đầu tiên ở Việt Nam ứng dụng công nghệ màng đáy thoáng khí giúp đẩy hơi ẩm làm da khô thoáng, chị Diệu lựa chọn ngay, mặc dầu trước đó có rất nhiều bạn bè giới thiệu các nhãn hàng khác. Nếu không có thông tin tốt, chị Diệu hay bất kỳ bà mẹ nào khác chắc chắn sẽ rất bối rối khi chọn tã cho con.

“Tôi thấy Bobby Fresh Newborn quảng cáo là sản phẩm có màng đáy thoáng khí giúp hơi ẩm thoát ra ngoài, giúp ngăn ngừa hăm da nên mua về dùng. Ít lâu sau, tôi lại thấy có nhãn hiệu khác cũng quảng cáo là “duy nhất có màng đáy thoáng khí” nên hơi hoang mang” - chị Lê Nguyễn Đông Phương ở Trần Trọng Cung, quận 7, TPHCM, chia sẻ.

Chị Phương điện thoại trực tiếp ra Cty Diana và được bà Đào Thị Phượng – Giám đốc chất lượng Diana khẳng định: “Trong các loại tã sản xuất tại Việt Nam hiện nay, chỉ có Bobby Fresh Newborn và Nannis là có màng đáy thoáng khí!”.

Bà Phượng hướng dẫn: “Nếu các bà mẹ chưa thực sự biết tã nào có “màng đáy thoáng khí” thì nên dùng những miếng tã úp trên các cốc nước sôi và đậy lại bằng một chiếc cốc úp ngược khác. Trong vòng 15 phút, chiếc cốc nào mờ dần vì hơi nước thì đích thị chiếc tã trên cốc đó có “màng đáy thoáng khí”.

Nhiều bà mẹ đã áp dụng thí nghiệm này để xác định tã nào có màng đáy thoáng khí thật sự, để có quyết định đúng khi chọn tã cho bé.

Công nghệ cho “thượng đế trẻ con”

Không giống như những loại tã khác, bà Phượng cho biết, tã giấy Bobby Fresh Newborn của Diana, về mặt cấu trúc, chứa hạt CaCO3 trong màng PE ở dạng siêu mịn với kích thước phân tử. Trong quá trình co giãn, các hạt CaCO3 và hạt PE sẽ hình thành nên các micropores- là những lỗ có kích thước siêu nhỏ có tác dụng cho hơi nước đi qua và giữ dịch lỏng ở lại, giúp bề mặt tã luôn khô thoáng, giúp da trẻ không bị hầm bí, nhất là trong thời tiết nóng ẩm này.

Theo nghiên cứu của Diana, với công nghệ “Màng đáy biết thở” dạng vải này, tỷ lệ thoát ẩm 3.500 gr/m2/ngày giúp giảm nhiệt trong lòng tã trẻ em khoảng từ 0,8 – 1,5oC. Trung bình bé dùng 4 giờ/một tã Bobby, thì sẽ có 14gr hơi nước được thoát ra qua màng này.

Tuy nhiên, vì công nghệ “màng đáy thoáng khí” làm tăng giá thành một chiếc tã lên khoảng 20% nên một số nhà sản xuất có thể không “kham” được, thỉnh thoảng lại có những mẩu quảng cáo không đúng sự thật - vừa ảnh hưởng đến Bobby Fresh Newborn, vừa gây ra hiểu nhầm không đáng có cho các bà mẹ khi chọn tã cho con.

Chọn tã: Chớ xem thường!

Bác sĩ Lê Đức Thọ - Trưởng khoa Da liễu - BV Hoàn Mỹ Sài Gòn: “Các bậc cha mẹ nên chọn tã giấy có uy tín, công nghệ hiện đại. Tránh dùng nhãn hiệu tã giấy trôi nổi hoặc thông tin sản phẩm không rõ ràng… khiến trẻ bị viêm da hoặc hăm da như nhiều trường hợp phải nhập viện điều trị vừa qua. Việc chọn loại tã chất lượng cao, có màng đáy thoáng khí… thật sự sẽ rất tốt cho trẻ trong thời tiết nóng nực hiện nay”.
Theo Báo Tiền Phong

Đầu Tư Vào Campuchia - Tiềm Lực Lớn

Nền kinh tế có nhiều nét tương đồng, doanh nghiệp có nhiều kinh nghiệm trên thị trường, đầu tư vào Campuchia đang là một lợi thế lớn cho doanh nghiệp Việt Nam. Nhất là khi Chính phủ có chủ trương cho doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, Campuchia trở thành địa chỉ tiềm năng thu hút các doanh nghiệp Việt Nam...

Hàng Việt đang tiến sâu hơn vào thị trường Campuchia. Ảnh: Internet

Thị trường lớn

Theo nhiều nhà đầu tư, Campuchia là một thị trường lớn để doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập vào thị trường nội địa nước này và đến nước thứ ba trên thế giới. Thời gian qua, mậu dịch qua biên giới hai nước liên tục tăng. Bất chấp ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế toàn cầu, kim ngạch trao đổi thương mại giữa hai nước vẫn tăng đều đặn. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2008 đạt gần 1,1 tỉ USD, tăng gần 40% so với năm 2007. Đến năm 2009, kim ngạch này đạt gần 1,4 tỉ USD, tăng 30% so với năm 2008. Trong đó, các tỉnh ĐBSCL chiếm tỷ lệ lớn. Ông Vương Bình Thạnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, cho biết: “Mục tiêu đạt kim ngạch xuất nhập khẩu qua biên giới Việt Nam-Campuchia đạt 2 tỉ USD vào năm nay là hoàn toàn có thể khi mậu dịch hai bên đang có chiều hướng tăng mạnh, hoạt động tại các chợ biên giới đang rất sôi động. Các tỉnh dọc biên giới hai nước hiện đang hoàn thiện khu mậu dịch biên giới để phát huy lợi thế này...”.

Thông tin từ các cơ quan chức năng của Vương quốc Campuchia, nước này hiện còn diện tích đất rất lớn để đầu tư sản xuất và chế biến công, nông nghiệp phục vụ xuất khẩu. Điều thuận lợi là vùng đất này tập trung với diện tích lớn, đất khá màu mỡ và chưa bị thoái hóa do các loại hóa chất. Chỉ riêng một số vùng giáp biên giới với An Giang, có khoảng 6.000 đến 7.000 ha hiện đang thiếu nhân lực khai thác. Trong khi đó, nông nghiệp ở đây, nhất là nghề trồng lúa, còn lạc hậu, làm lúa dài ngày, kỹ thuật kém. Thông qua các chương trình hỗ trợ nông nghiệp của An Giang và Kiên Giang, cho thấy vùng đất này rất thích hợp với trồng lúa cao sản. Nếu đầu tư trồng rau màu, nhà đầu tư sẽ bán trực tiếp vào nội địa nước này với giá cao hơn tại Việt Nam trong khi giá thành thấp hơn... Tỉnh Kompom Thom và Kompom Cham giới thiệu đến doanh nghiệp Việt Nam trồng cây điều mẫu để quảng bá, phát triển giống, kỹ thuật chế biến hạt điều tại đây với diện tích khoảng 2.000 ha.

Vương quốc Campuchia đã tham gia nhiều tổ chức kinh tế trên thế giới là điều kiện tốt để doanh nghiệp Việt Nam đưa hàng sang nước này hoặc đầu tư vùng nguyên liệu, nhà máy tại đây để sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Các chuyên gia cho rằng, một số mặt hàng sản xuất tại Việt Nam chưa có thương hiệu có thể phối hợp với doanh nghiệp Campuchia xuất qua nước này để hoàn thiện các quy định khắt khe trước khi xuất sang các nước thứ ba. Thực tế, có nhiều mặt hàng được sản xuất quy mô nhỏ ở Việt Nam được ưa chuộng ở Campuchia và có thể xuất khẩu sang nước thứ ba. Nhưng đơn vị sản xuất không đủ tư cách pháp nhân để xây dựng xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý. Vì vậy, khâu hoàn thiện các chứng chỉ này tại Campuchia là cần thiết để hàng Việt đi xa hơn và có giá trị cao hơn. Ngoài ra, còn có một thông tin hấp dẫn đối với doanh nghiệp Việt Nam: Tháng 8-2009, EU bắt đầu cho phép nhập khẩu gạo từ Campuchia với mức thuế 0%. Đây là cơ hội tốt để nước này cạnh tranh với các nước khác và cũng là thời cơ tốt cho các doanh nghiệp có nhu cầu hợp tác.

Cánh cửa mở...

Ngài Choun Đara, Quốc vụ khanh Bộ Thương mại Vương quốc Campuchia, cho biết: Tất cả các lĩnh vực kinh tế ở Campuchia đều được mở cho nhà đầu tư nước ngoài, trừ lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc gia. Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam có thể đầu tư vào sản xuất và chế biến nông-lâm sản, xây dựng, năng lượng, hàng không, bảo hiểm, tài chính-ngân hàng, du lịch, viễn thông, khoáng sản, phân bón... Campuchia cũng đang tập trung cải cách hành chính để thu hút đầu tư. Hiện nay, có các Tiểu ban đầu tư tại 24 tỉnh, thành để cấp phép cho dự án dưới 2 triệu USD, thông qua đề nghị xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp và đưa ra những khuyến khích đảm bảo các quyền lợi của nhà đầu tư. Ngoài ra, còn có Hội đồng phát triển Campuchia là dịch vụ “một cửa” để cấp giấy xác nhận đủ điều kiện đầu tư trong 3 ngày và cấp Giấy xác nhận đăng ký chính thức trong vòng 28 ngày. Thời gian thuê đất có thể kéo dài đến 99 năm. Nhà đầu tư được miễn thuế trong 3 năm và kéo dài thêm 3 năm nữa tùy thuộc vào hiệu quả hoạt động và lĩnh vực đầu tư...

Thống kê của Bộ KH&ĐT, từ năm 1989 đến nay, Việt Nam đã cấp phép đầu tư vào Campuchia trị giá 883 triệu USD. Riêng năm 2009, doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư vào nước này 400 triệu USD, chủ yếu các lĩnh vực khoáng sản, công nghiệp. Hoàng Anh-Gia Lai đầu tư 73 triệu USD trồng trên 20.000 ha cao su tại Campuchia. Công ty TNHH C&V đầu tư 37,2 triệu USD trồng 7.000 ha cao su tại Kratie. Dự kiến đến năm 2011-2012, một số doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trồng mới 100.000 ha cao su tại nước này. Công ty liên doanh Kamadhenu đầu tư 75 triệu USD xây dựng nhà máy sản xuất phức hợp đường, ethanon và điện tại tỉnh Kratie. Tập đoàn phân bón Năm Sao-Việt Nam hợp tác thành lập Công ty phân bón Quốc tế Năm Sao Campuchia và góp 90% vốn trong tổng số 65 triệu USD xây dựng nhà máy công suất 350.000 tấn/năm tại tỉnh Kandal... Cũng theo Bộ KH&ĐT, hiện đang có nhiều dự án lớn được hợp tác giữa hai bên trị giá hàng tỉ USD. Trong đó, Tập đoàn Than-khoáng sản Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp Campuchia thành lập Công ty TNHH Alumina Cambodia-Vietnam khảo sát và khai thác quặng beauxite tại tỉnh Mondol Kiri. Vốn đầu tư gian đoạn I của dự án khoảng 2,5 tỉ USD và tăng đầu tư lên 3,5 tỉ USD vào giai đoạn II.

“Sản xuất và hoàn thiện thành phẩm ngay tại Campuchia là giải pháp tốt nhất để khẳng định thương hiệu tại thì trường này, làm bước tiến cho các thị trường khác”. Nhiều doanh nghiệp rất đồng thuận với ý kiến này khi hàng hóa của Việt Nam được ưa chuộng tại thị trường Campuchia từ thành thị đến nông thôn. Tăng giá trị và giảm giá thành sản phẩm, sử dụng nguồn nhân công giá thấp... là những lợi thế để khẳng định hiệu quả đầu tư trên mảnh đất tiềm năng này. Các chuyên gia cho rằng, lợi thế đã có, vấn đề còn lại là nhà đầu tư khôn ngoan chọn chiến lược kinh doanh phù hợp với thị trường, tâm lý khách hàng. Nói cách đơn giản, “biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”. Đầu tư vào thị trường Campuchia là cơ hội nhưng cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam...
Theo Báo Cần Thơ

27 tháng 5, 2010

Băn Khoăn Chọn Sữa Cho Bé: Dinh Dưỡng Thực Sự Ở Đâu?

Ngày 26/5/2010, Hội Liên hiệp Phụ nữ Hà Nội phối hợp với Cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm tổ chức hội thảo An toàn vệ sinh thực phẩm và tư vấn chọn sữa an toàn, hiệu quả và tiết kiệm. Tham dự chương trình có khách mời là Công ty sữa Việt Nam Vinamilk và hơn 400 cán bộ phụ nữ và các bà mẹ trên địa bàn Hà Nội.

Bà Nguyễn Hữu Ngọc Trân, Giám đốc Điều hành Marketing Công ty sữa Việt Nam Vinamilk phát biểu tại hội nghị.

Hiện nay, an toàn vệ sinh thực phẩm đang thực sự là mối quan tâm hàng đầu của xã hội. Hàng loạt các vụ vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm như chế biến mỡ động vật bẩn, thịt quá hạn sử dụng, nội tạng động vật thối, rau quả thối tại siêu thị, sữa không đạt tiêu chuẩn về hàm lượng đạm… thậm chí sữa nhiễm Melamin ở Trung Quốc cũng gây lo lắng và tâm lý bất ổn và hoang mang cho người tiêu dùng.

Với tình hình các sản phẩm vô cùng phong phú của thị trường sữa Việt Nam như hiện nay, các bà mẹ rất băn khoăn, lo lắng không biết nên chọn sữa và thực phẩm theo chuẩn mực nào để sản phẩm có thể đáp ứng được những kì vọng về mặt sức khỏe cũng như giúp ích vào sự phát triển trí não và hệ miễn dịch cho con mình.

Vì vây, hội thảo An toàn vệ sinh thực phẩm và tư vấn chọn sữa an toàn, hiệu quả và tiết kiệm được tổ chức nhằm tuyên truyền và chia sẻ những kiến thức về bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và chọn lựa các sản phẩm sữa bột trẻ em phù hợp.

Tại hội thảo, Thạc sỹ Nguyễn Thanh Phong – Phó Cục trưởng cục VSATTP đã hướng dẫn cho các chị em phụ nữ những tiêu chí cơ bản trong việc bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, chọn sữa an toàn, hiệu quả.

Theo Thạc sỹ Phong, tại Việt Nam hiện nay, hàng năm có khoảng 200.000 ca ung thư mới (trong đó có khoảng 150.000 ca tử vong), phần lớn có liên quan và bắt nguồn từ vấn đề VSATTP. Có ba điều kiện ảnh hưởng trực tiếp đến vệ sinh an toàn thực phẩm: điều kiện kinh tế, thói quen của người tiêu dùng và tính dễ dãi cả nể của người tiêu dùng. Đây là những yếu tố quan niệm cần thay đổi để có thể đảm bảo được đời sống cũng như sức khỏe của chính người dân.

Ngoài việc bàn về vấn đề ATVSTP, hội thảo còn có sự thảo luận sôi nổi, chia sẻ giữa các bà mẹ về cách chọn sữa cho con hiệu quả và tiết kiệm đồng thời phù hợp với chủ trương “Người Việt dùng hàng Việt”. Các bà mẹ đều bảo vệ ý kiến chọn lựa loại sữa cho con mình, nhưng cũng nhiều người mới lần đầu nuôi con nhỏ không khỏi băn khoăn với việc lựa chọn sữa phù hợp cho bé đều được tư vấn và giải đáp chi tiết bởi các chuyên gia dinh dưỡng cũng như từ các bà mẹ có kinh nghiệm.

Băn khoăn "có phải sữa đắt mới chắc chắn là sữa tốt?" thu hút nhiều bà mẹ bày tỏ ý kiến. Chị Bùi Thị Huệ, một người tham dự hội thảo đang nuôi con nhỏ, sau khi đã từng thử nghiệm rất nhiều loại sữa bột cho con, tâm sự: “Từ ngày chuyển qua Dielac, con tôi tiêu hóa, hấp thụ tốt, lên cân đều, chiều cao phát triển nhanh, đặc biệt bé đi ngoài dễ dàng. Giá sữa cũng phù hợp và tôi tiết kiệm được thêm khoản để dành chi tiêu trong gia đình”.

Bà Nguyễn Hữu Ngọc Trân, Giám đốc Điều hành Marketing Công ty sữa Việt Nam Vinamilk cho biết: “Trong năm 2009, theo kết quả nghiên cứu lâm sàng trên 560 trẻ em Việt Nam do Viện Dinh dưỡng Quốc gia tổ chức cho thấy sữa Dielac Alpha cho hiệu quả ngang bằng các loại sữa ngoại nhập. Cũng theo một kết quả nghiên cứu thị trường của công ty nghiên cứu thị trường độc lập CBI năm 2010 nhằm mục đích khảo sát mức độ hài lòng của sản phẩm Dielac Alpha trên 400 bà mẹ ở 4 thành phố chính: Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ cho thấy: khoảng 96% các bà mẹ chọn sữa Dielac Alpha hài lòng với sự phát triển của con mình. Đây là những kết quả đáng tự hào vì đã mang đến cho các trẻ em trên khắp VN sản phẩm dinh dưỡng chất lượng tốt thực sự ở một mức giá hợp lý”.
Theo Vietnamnet