Hiển thị các bài đăng có nhãn Ý kiến người tiêu dùng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ý kiến người tiêu dùng. Hiển thị tất cả bài đăng

22 tháng 4, 2011

Phim Quảng Cáo : “Dụ” Trẻ Con, “Dụ Người Lớn"...

Trên trang WTT từng có cả một bộ sưu tập các phim quảng cáo được “up” lên để đáp ứng nhu cầu “download” dòng phim này để phục vụ… bọn trẻ con!

Ảnh minh họa.
Ai đó đã nói rằng: “Quảng cáo ở Việt Nam ngoài tác dụng quảng bá thương hiệu, lôi kéo sự chú ý của khách hàng thì còn có tác dụng là dỗ trẻ con nín khóc”! Nói thế cho vui, nhưng phải thừa nhận một thực tế rằng, ở Việt Nam, phim quảng cáo có một vị trí thật đặc biệt. Trong các “thể loại phim” có mặt ở Việt Nam, phim quảng cáo là thể loại non trẻ nhất, tuy nhiên lại là thể loại “hùng mạnh” nhất.

Có thể nói không ngoa rằng, có những đạo diễn chỉ làm phim nhựa và có những quay phim chỉ quay phim truyền hình…, thế nhưng ở Việt Nam hầu như chẳng có đạo diễn tên tuổi nào, quay phim danh tiếng nào và cả những nhạc sĩ nổi danh trên thị trường nào, lại không từng “đầu quân” cho phim quảng cáo.

Sẽ không có gì ngạc nhiên khi bắt gặp một đạo diễn mà tên tuổi ngời ngời ở các LHP nghệ thuật quốc tế, lại đang chỉ đạo ê-kíp quay đoạn phim quảng cáo cho một sản phẩm công nghệ cao, cũng như không có gì bất ngờ khi một nhạc sĩ tên tuổi cho biết thù lao cao nhất nhận được khi sáng tác là bản nhạc… 30 giây cho phim quảng cáo! Làng nghệ Việt Nam đã có một thời nhà nhà sống nhờ làm phim quảng cáo.

Thời oanh liệt

Đến nay, mức kinh phí được cho là “khủng” nhất của một phim quảng cáo phát trên truyền hình (TVC) do người Việt tham gia sản xuất vẫn là clip quảng cáo Tiger Quest của hãng bia Tiger: 1 triệu USD, chính xác là 978 ngàn đô. Tiger Quest được sản xuất vào năm 2001 bởi đội ngũ làm ý tưởng gồm có 7 người châu Á, trong đó có 2 người Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Linda Locke, vị nữ giám đốc sáng tạo của Leo Burnett tại Singapore.

Vụ khủng bố kinh hoàng 11/9 nhằm vào nước Mỹ cũng chính là cái chốt của quả bom ý tưởng cho việc xây dựng hình ảnh của Tiger Beer tại châu Á của nhóm. Sau khi gửi cho nhau những tin nhắn về sự việc đang được các kênh truyền hình lớn nhất thế giới phát đi, 7 người họ đã ra Vũng Tàu “nghỉ mát” để cùng nhau tạo ra một cơn bão ý tưởng (brain storming).

Sau gần một tuần làm việc căng thẳng ở nơi nghỉ dưỡng, câu chuyện “tinh thần mới cho đàn ông châu Á hiện đại” ra đời và bộ phim Tiger Quest đã được quay tại New York, Hong Kong và Trung Quốc với sự tham gia của các ngôi sao thuộc nhiều nước châu Á, trong đó có Việt Nam.

Chân ướt chân ráo gia nhập thị trường châu Á, quyết định chi 1 triệu đô cho đoạn phim chỉ vài chục giây, Tiger nhanh chóng gây ấn tượng, lấn át các đối thủ trong khu vực. Quá trình làm Tiger Quest và số tiền khổng lồ chi cho gần 1 phút phim đã trở thành một câu chuyện “truyền kỳ” của làng phim quảng cáo Việt Nam cho tới tận bây giờ. Những nhà quảng cáo chuyên nghiệp cho rằng chính chiến dịch làm phim và số tiền 1 triệu đô cũng là một đòn PR rất mạnh giúp Tiger thắng thế trong cuộc chiến giành thị phần tại châu Á.

Nhưng bên cạnh “tiếng gầm” đầy uy lực của Tiger Quest trị giá tới cả triệu USD, thời kỳ này, nổi danh không kém là thành công của phim quảng cáo một sản phẩm “made in Vietnam” của nhãn hiệu giày dép Bitis với câu slogan bất hủ “Nâng niu bàn chân Việt”. Phim này cũng được sản xuất bởi một công ty nước ngoài với tổng chi phí khoảng 70 ngàn USD nhưng hãng giày Bitis chỉ phải chi trả một phần nhỏ (khoảng 10 ngàn USD), còn lại do công ty kia bao thầu bởi đây cũng là cơ hội để công ty quảng cáo kia tiếp thị mình với khách hàng Việt Nam.

Tuy nhiên, điều đáng nói hơn trong bộ phim quảng cáo “bé hạt tiêu” (nếu so với Tiger Quest) nhưng “cay phải biết” này là sự vinh danh những cái tên Việt trong làng sáng tạo quảng cáo ở Việt Nam lúc ấy, một trong số đó là Trương Tiếp Trương, “cha đẻ” của slogan “Nâng niu bàn chân Việt”.

Lịch sử đã sang trang

Nhưng thời oanh liệt ấy đã không kéo dài. Bộ ba người Việt từng tham gia vào ê-kíp sáng tạoTiger Quest và là linh hồn của “Nâng niu bàn chân Việt” giờ đã tan đàn xẻ nghé. Trương Tiếp Trương bỏ Sài Gòn về Nha Trang… đi tu một thời gian và bây giờ thì đang dạy học. Một người bạn của anh trong bộ ba này cũng đã bỏ hẳn nghề…

Theo những người kỳ cựu trong làng sản xuất phim quảng cáo thì thời của những bộ phim kinh phí triệu đô đã qua, giờ đây người ta không đổ quá nhiều tiền chỉ để sản xuất một clip quảng cáo nổi đình nổi đám nữa. Có rất nhiều lý do dẫn đến bước phát triển này.

Ngày nay, những thông điệp kiểu như We are the best (chúng tôi tốt nhất), We are the only one (chúng tôi là duy nhất), We are the exclusive (chúng tôi khác biệt) hay We are only choice (chúng tôi là sự lựa chọn duy nhất)… không còn làm người ta tin nữa, người ta cần những thông điệp nhẹ nhàng, gần với đời sống hơn.

Sự bùng nổ của phim quảng cáo trên truyền hình cũng mang lại mặt trái của nó, là tình trạng “bội thực” clip quảng cáo. Theo luật pháp của Liên minh châu Âu, tỷ lệ phát quảng cáo trên truyền hình là 20%, nghĩa là 12’/1h phát sóng nhưng phải rải rác chứ không tập trung một lúc, trong khi ở Việt Nam chẳng có luật nào cho chuyện này và giữa một bộ phim dài 45 phút, người ta có thể chen vào… nửa tiếng clip quảng cáo!

Vì vậy mới xảy ra thực tế… “trẻ con rất thích xem phim quảng cáo, chúng chỉ nín khóc khi được coi quảng cáo và thích thú lặp lại những câu slogan hay câu nói dễ nhớ một cách ngây thơ. Còn người lớn thì không ít người bực mình khi đang coi một chương trình hay một bộ phim mà bị chen ngang tới 10 phút quảng cáo, người ta có thể cầm remote bấm ngay qua kênh khác mà không cần đắn đo như một phản xạ cũng tự nhiên như các mẩu quảng cáo tự nhiên xuất hiện trong các chương trình họ đang coi” (theo Saga.vn).

Thành công của một phim quảng cáo - khác biệt hẳn với một phim truyện nghệ thuật - không nằm ở đánh giá của các nhà phê bình, mà ở hiệu quả đối với khách hàng. Thực tế cũng cho thấy có không ít phim quảng cáo với ý tưởng bay bổng, khi phát sóng, hình ảnh thương hiệu cũng bay luôn khỏi đầu khán giả hoặc ngược lại, có những phim quảng cáo làm chi tiết, cụ thể về món hàng “chào” với khán giả, nhưng cuối cùng lại bị chính các “thượng đế” quay lưng.

Một trong những ví dụ điển hình của “hiệu quả ngược đời” được dân trong nghề nhắc tới là một clip quảng cáo dịch vụ hạng C (thương gia) của một hãng hàng không lớn ở Việt Nam. Mời các ngôi sao làng giải trí đóng vai chính, quay cận cảnh khoang ghế thương gia, nhưng sự thất bại của đoạn phim này đã khiến chủ nhân của nó buộc phải thay ngay bằng một clip quảng cáo mới.

Và clip được xem thành công nhất của hãng này, được sử dụng cả trên một số kênh truyền hình quốc tế lớn, lại toàn quay cảnh đất nước và con người Việt Nam, còn thương hiệu chỉ xuất hiện “tí xíu” ở cuối phim. Điều này cho thấy khán giả của phim quảng cáo có những tâm lý khá đặc biệt khi xem phim quảng cáo mà chỉ những người làm quảng cáo chuyên nghiệp mới nắm rõ.

Mặt khác, sự phát triển như vũ bão của công nghệ mạng và sự phình to của các mạng xã hội đã tác động lớn tới mức có thể làm thay đổi cả quan điểm lẫn tôn chỉ hoạt động của ngành truyền thông nói chung và quảng cáo nói riêng.

Nếu như trước đây người ta dùng cụm từ “công nghiệp quảng cáo” thì nay đã đổi thành “công nghiệp ý tưởng” và công nghiệp ý tưởng đã giúp các doanh nghiệp, cá nhân chẳng cần phải chi quá nhiều cho phim ảnh. Nếu có tài khoản trên một mạng xã hội bất kỳ, ai cũng có thể kiểm chứng điều này. Chỉ cần có ý tưởng hay, độc đáo, viết hay, quan điểm tốt là bạn được rất nhiều người trong cộng đồng mạng của mình biết đến mà không phải trả một xu. Đó là thử thách rất lớn với các tập đoàn truyền thông.

Trong bối cảnh mới, những tập đoàn kinh doanh lớn vẫn không tiếc tiền chi cho phim quảng cáo nhưng không phải cho mấy chục giây như Tiger Quest từng làm mà cho cả một chiến dịch kéo dài ngằm “hạ gục” khán giả bằng chiến lược “mưa dầm thấm lâu” hay “sợi chỉ xuyên suốt”. Điển hình cho các chiến dịch lớn là khoản chi 2 triệu USD cho câu chuyện quảng cáo “Thiên thần hương” của một thương hiệu hóa mỹ phẩm. Nay câu chuyện này đã phát triển thành một series dài kỳ với hình ảnh cặp tình nhân vải và ngân sách đã tăng lên tới 5 triệu USD.

Nhưng nếu không có ngân sách “khủng” nói trên, không có nghĩa phim quảng cáo thất bại. Ý tưởng độc đáo, đánh trúng tâm lý của khách hàng sử dụng sản phẩm đã tạo nên thành công của các TVC, tiêu biểu như Xmen, Heineken, cà phê Moment, bột giặt OMO… mà giá thành của mỗi TVC chỉ rơi vào khoảng từ 20 ngàn đến 50 ngàn USD.

Và ngược lại, do khả năng tài chính có hạn và do trình độ nghiệp dư của người làm (có thể nhận làm TVC với bất cứ giá nào!) không ít phim quảng cáo (chủ yếu rơi vào những sản phẩm trong nước) trở thành “món tra tấn” khán giả mỗi khi trót xem: ý tưởng ngây ngô, diễn viên vụng về, sản phẩm xuất hiện thô thiển...

Thời của phim quảng cáo “may sẵn”?

Không còn ở thời kỳ đỉnh cao của những quảng cáo xuất hiện trong “thuở ban đầu”, bay bổng, gây ấn tượng cho cả những người làm quảng cáo lẫn công chúng, phim quảng cáo bước sang giai đoạn hiệu quả bằng sự chuyên nghiệp.

Vậy là bên cạnh kiểu làm phim quảng cáo truyền thống (nghĩa là khách hàng đặt hàng nhà sản xuất TVC từ khâu đầu tiên xây dựng ý tưởng đến khâu cuối cùng - phát sóng), thị trường phim quảng cáo ở Việt Nam đã xuất hiện những “siêu thị phim quảng cáo”, một dạng phim quảng cáo “may sẵn”, chủ yếu dành cho nhóm khách hàng phổ thông đây cũng là nhóm khách hàng đông nhất ở Việt Nam hiện nay, tập trung vào các sản phẩm nội địa.

“Siêu thị phim quảng cáo” được hiểu nôm na là một “siêu thị” với nhiều lựa chọn các TVC mẫu cho các nhóm mặt hàng khác nhau, và khách hàng có thể “cầm lên đặt xuống” tất cả các TVC mẫu này và chọn cho sản phẩm của mình một hoặc vài TVC mẫu phù hợp nhất. TVC mẫu này sẽ được “mặc thử” cho khách hàng cho tới khi khách hàng cảm thấy “vừa vặn” và “vừa ý” - vậy là một phim quảng cáo “hàng may sẵn” đã hoàn tất.

Toàn bộ công đoạn này có thể chỉ mất 24 giờ đồng hồ, thay cho hàng tháng, thậm chí hàng năm nếu sản xuất theo kiểu truyền thống, với chi phí khoảng từ 5 ngàn đến 6 ngàn USD chỉ bằng giá trả cho một đạo diễn hạng trung của một phim quảng cáo sản xuất theo kiểu thông thường.

So với các TVC được sản xuất theo kiểu truyền thống, một dạng “hàng may đo”, tất nhiên các phim quảng cáo “may sẵn” sẽ không có được sự độc đáo đột phá (nếu so với các phim quảng cáo được đầu tư cực lớn), nhưng xét về hiệu quả lại an toàn hơn vì có thể kiểm soát và “thử” nhiều lần trước khi chính thức tung lên sóng trong khi điều này với những quảng cáo sản xuất kiểu truyền thống sẽ rất phức tạp, tốn kém, thậm chí là không thể làm được (trên thực tế có không ít phim quảng cáo thất bại với số chi phí lớn mà rút cuộc nhà đầu tư chỉ còn một cách là… quên đi).

Tương tự với thời trang, xu hướng hàng may sẵn, kể cả hàng hiệu giờ đây đang lấn lướt hàng may đo trên toàn thế giới, phim quảng cáo “may sẵn” cũng đang chứng tỏ sức hấp dẫn của mình với nhóm khách hàng vô cùng đông đảo. Và tất nhiên là khán giả cũng bớt phải “ăn” những phim quảng cáo “dưới chuẩn”…

Vũ Lê Vinh, Giám đốc công ty Vyadvertising, một trong những công ty quảng cáo chuyên cung cấp phim quảng cáo “may sẵn” , cho biết khách hàng ngày càng thích thú và an tâm tìm tới dạng phim quảng cáo kiểu mới này. Nếu như trước đây, nhân viên công ty Vyadvertising chỉ có thể trình bày ý tưởng để thuyết phục khách hàng thì nay, họ có sẵn sản phẩm để khách hàng có thể “sờ nắn” và ra quyết định mua hay không rất chóng vánh. Theo cách “may sẵn”, mỗi năm, công ty này có thể sản xuất tới 100 TVC đạt tiêu chuẩn và có nguồn khách hàng đều đặn với tỷ lệ 30% khách hàng nước ngoài và 70% khách hàng nội địa.

Nói là “hàng may sẵn” nhưng điều này không đồng nghĩa với sản xuất hàng loạt - điều tối kỵ trong lĩnh vực phim quảng cáo. Trong “siêu thị phim quảng cáo”, với mỗi mặt hàng, chẳng hạn ngân hàng, nhà cung cấp có sẵn một “kệ hàng” gồm khoảng 10 TVC mẫu, khách hàng chỉ cần lựa chọn cái mình thích và trả tiền, ngay lập tức sản phẩm đó thuộc về riêng họ, “biến mất” khỏi siêu thị vừa trưng bày nó. Hình ảnh của sản phẩm cần quảng cáo sẽ được lồng vào TVC đã làm sẵn với thời gian thực hiện là 24 tiếng.
Khi “chuẩn” của phim quảng cáo “may sẵn” càng cao, nó sẽ kích thích ngược lại sự sáng tạo của dòng phim quảng cáo “may đo” và kích thích cả sự khám phá của công chúng đối với nghệ thuật phim quảng cáo - một phần không thể thiếu được của nghệ thuật nghe nhìn thời hiện đại.
Nguồn: báo Thể thao và Văn hóa

1 tháng 4, 2011

Người Tiêu Dùng Việt Nam Vẫn Chi Trong Tình Trạng Lạm Phát

Tháng Hai vừa qua, người dân Việt Nam ăn mừng dịp Tết Nguyên Đán trên khắp cả nước. Như thường lệ và dịp này, mọi người đón xe và tàu lửa về quê để chung vui cùng gia đình. Tuy nhiên năm nay, phong bao lì xì của mọi người dường như nhẹ hơn, và quà cáp cũng khiêm tốn và ít hơn về số lưỡng so với trước. Không có nghi ngờ gì, khi ảnh hưởng của tình trạng giá cả thực phẩm và các mặt hàng tăng cao Trong 12 tháng vừa qua đã ảnh hưởng đến suy nghĩ của nhiều người Việt Nam.

Nguồn: Nielsen
Dù sao thì, nền kinh tế của Việt nam đã phát triển trên tất cả các mặt – chỉ cần dạo một vòng quanh thành phố Hồ Chí Minh & thủ đô Hà Nội, chúng ta có thể thấy sự phát triển của các bất động sản mới – bằng chứng cho thấy quốc gia này đang ở trong giai đoạn phát triển bùng nổ. Và người tiêu dùng Việt nam đã bắt đầu tận hưởng thành quả lao động của mình với mức thu nhập tăng cao – kết quả có được từ sự phát triển của tầng lớp trung lưu thành thị. Áp lực lạm phát diễn ra là một sản phẩm phụ tất yếu của việc tăng trưởng.

Theo số liệu của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam thì trong năm 2010, chỉ số giá cả tiêu dùng đã tăng thêm 11,75%. Trong vòng 2 tháng đầu năm 2011, lạm phát đã chạm mức 12.24%, so với cùng kỳ năm trước đó. Danh mục mặt hàng thực phẩm gặp khó khăn khi giá cả tăng hơn 16%, giá gạo tăng thêm 1/3 so với giá cũ. Đầu tháng Ba, giá xăng dầu tăng gần 18%, trong đó dầu diesel tăng vọt thêm 24% và giá điện tăng 15%.

Theo phân tích của công ty Nielsen, doanh số hàng tiêu dùng nhanh ở cấp độ bán lẻ tại Việt Nam đã tăng 27.3% so với năm 2010 – và đây là chỉ số tăng trưởng cao nhất trong 13 thị trường khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Hơn 70% tỷ lệ tăng trưởng của ngành hàng có được từ việc tăng giá. Trong quý IV năm 2010, doanh số bán lẻ của các mặt hang FMCG đã tăng 31% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó hơn 1/3 là nhờ tăng giá. Rõ ràng sự tăng trưởng của ngành hàng này được thúc đẩy phần lớn nhờ lạm phát, nhưng người tiêu dùng vẫn rất lạc quan khi tiếp tục chi tiêu vào đây.

Khi những lo lắng liên quan đến lạm phát dần hình thành, thì mức độ sẵn sàng chi tiêu, tình trạng tài chính cá nhân và việc sử dụng tiền mặt dự phòng của người tiêu dùng có thể sẽ bắt đầu thay đổi khi họ để ý đến tác động của lạm phát đến đời sống và nền kinh tế. Các dữ liệu của Nielsen cho thấy có thể một mức tăng ở chỉ số tự tin của người tiêu dùng CCI của quốc gia này sẽ xuất hiện. Trong năm 2010, chỉ số này đã đạt trên mức trung bình 100 điểm, cho chúng ta thấy một viễn cảnh lạc quan.
Để đối phó với mức giá tăng vọt của các mặt hang hằng ngày, người tiêu dùng có thể cắt giảm các khoản chi không cần thiết như vui chơi giải trí bên ngoài, mua sắm các mặt hàng công nghệ hoặc quần áo mới. Khi người tiêu dùng Việt Nam vẫn tiếp tục chi tiêu như bây giờ, họ sẽ hướng về mặt giá trị nhiều hơn, và có thể buộc phải chuyển sang các sản phẩm nhãn hiệu riêng (private label products) hoặc sản phấm có giá thấp hơn như là chiến lược mở rộng ngân sách chi tiêu cho gia đình của họ. Họ cũng có thể phân bổ nhiều hơn vào các dịp chi tiêu thuận tiện.

Tất cả những yếu tố trên đặt các nhà sản xuất hàng tiêu dùng đóng gói vào một vị thế khó khăn: ở một số mặt, họ có thể sẽ cần phải đẩy chi phí nguyên liệu và sản xuất tăng thêm cho người tiêu dùng mà không gây ra mất mát quá nhiều về khối lượng doanh thu. Họ, cùng với các nhà bán lẻ, sẽ phải đẩy mạnh nỗ lực đổi mới tiếp thị và sản xuất: những người tiêu dùng ngày càng nhạy cảm về giá sẽ tìm kiếm các chương trình khuyến mại để mở rộng ngân sách chi tiêu cho gia đình; kích thước gói hàng và các thành phần nguyên liệu có thể được điều chỉnh. Điều quan trọng là các nhà bán lẻ và nhà sản xuất có cách tiếp cận chiến lược với môi trường lạm phát cao này để có thể cân bằng nhu cầu của họ với nhu cầu người tiêu dùng.

Tất nhiên Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất gặp áp lực lạm phát, việc tăng giá nhanh chóng đã được nhìn nhận nhiều ở các nước xung quanh khu vực và trên thế giới. Năm 2011 này, Chính phủ Việt Nam đã sửa đổi mức dự đoán về tăng trưởng GDP xuống còn 6,5-7%, từ dự đoán trước đó là 7-7,5%. Họ đã tuyên bố ưu tiên hàng đầu của mình là cuộc chiến chống lạm phát ưu tiên hàng đầu của mình cho dù tiền Đồng đang mất giá, và các biện pháp kiềm chế lạm phát hiện đang được thực hiện, bao gồm cắt giảm mục tiêu thâm hụt ngân sách, hạn chế tăng trưởng tín dụng và tăng lãi suất. Những động thái này nhằm thẳng vào việc kiềm chế lạm phát trong khi vẫn tiếp tục khuyến khích tăng trưởng, sẽ làm nên sự khác biệt cho người tiêu dùng và nền kinh tế Việt Nam.
Darin Williams – Giám đốc điều hành công ty Nielsen tại Việt Nam
Kim Anh – Sưu tầm và lược dịch từ Blog.nielsen.com
Nguồn VietnamBranding

17 tháng 3, 2011

Quá Tin Vào Quảng Cáo

Hưởng ứng Ngày Quyền của người tiêu dùng (NTD) thế giới (15.3), UBND TP.Hà Nội triển khai chương trình “Hành động vì quyền lợi NTD” năm 2011 từ 1.3 – 31.7.2011 với mục đích đưa Luật Bảo vệ quyền lợi NTD (có hiệu lực từ ngày 1.7.2011) đi vào cuộc sống.

Tràn lan quảng cáo.
Trong khi có đầy đủ các tổ chức như Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ NTD, Hội Bảo vệ quyền lợi NTD…, nhưng quyền lợi hợp pháp của NTD vẫn chưa được bảo vệ. Đồng thời, NTD vẫn chưa nhận thức đầy đủ về quyền lợi của mình. Niềm tin của NTD với sản phẩm chỉ dừng ở mức uy tín của quảng cáo.

Theo thống kê của Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ NTD Việt Nam, trung bình mỗi năm hội tiếp nhận khoảng hơn 1.000 khiếu nại về chất lượng, dịch vụ các sản phẩm. Trong đó, số lượng các vụ vi phạm quyền lợi NTD liên quan đến vấn đề quảng cáo ngày càng gia tăng.

Tràn lan các quảng cáo sai sự thật

Chị Bùi Thị Thúy – xã Xuân Phương (Từ Liêm, Hà Nội) - cho biết: “Xem truyền hình quảng cáo nước xả vải có thể ngăn ngừa được muỗi đốt với tỉ lệ cao, mặc dù gia đình vẫn còn nước xả vải, tôi quyết định mua thử một chai loại 1,8 lít. Ngày nào giặt quần áo tôi đều cho nước xả vải loại mới, nhưng hai con tôi vẫn bị muỗi đốt (?!)”.

Giám đốc một Cty vàng bạc đá quý tại TPHCM đã nói: “Vừa qua, trên một số chương trình bán hàng qua mạng và truyền hình có giới thiệu các sản phẩm trang sức với nhiều mức giá, được quảng cáo làm bằng chất liệu vàng, đính kim cương, kim cương nhân tạo... Tuy nhiên NTD khó có thể kiểm chứng và biết chính xác chất liệu, giá trị thực của các bộ trang sức này. Những thông tin NTD biết về sản phẩm hoàn toàn chỉ dựa vào lời quảng cáo”. Đã có không ít NTD ở TPHCM mua sản phẩm theo quảng cáo, đến khi cần bán lại các bộ trang sức này thì mới tá hỏa vì đã mua với giá quá cao so với giá trị thực của sản phẩm. Các trang sức vàng chỉ là hàng xi vàng bên ngoài hoặc kim cương nhân tạo chỉ là những loại đá nhân tạo có giá trị thấp, không như lời quảng cáo.

Hội Bảo vệ quyền lợi NTD TPHCM cho biết, vừa qua hội đã hòa giải một trường hợp NTD tin vào tờ giới thiệu quảng cáo của Metro (gửi đến tận nhà khách hàng) nên đã mua 1 nệm xếp 4 trong 1 mang thương hiệu Hava’s với dòng giới thiệu: “Hiệu quả, tiện lợi, đa năng, vải cotton 100%” kèm lời quảng cáo hấp dẫn: “Êm ái và bền bỉ, hàng xuất khẩu Hoa Kỳ” được Metro áp dụng khuyến mãi giảm giá 50% còn 482.900 đồng. Khi NTD mua sản phẩm đệm Hava’s về thấy nệm cứng quá, đã mở bên trong mới phát hiện toàn bằng mốp xốp (loại thường dùng làm thùng đá), bao bên ngoài bằng một lớp mouse, vải bọc là loại vải rẻ tiền, không phải cotton như trên nhãn ghi. Sau khi phản ánh đến Metro An Phú và yêu cầu trả lại sản phẩm nhưng không được đáp ứng, khách hàng này đã nhờ Hội Bảo vệ NTD TPHCM can thiệp.

Người tiêu dùng chưa tự bảo vệ mình

Ngày 15.3, tại hội thảo về bảo vệ quyền lợi NTD, ông Bạch Văn Mừng – Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) - cho biết: “Thời gian gần đây, nhiều chương trình quảng cáo gian dối trên truyền hình, giới thiệu những sản phẩm tẩy rửa siêu sạch, các loại mỹ phẩm cực tốt..., nhưng thực tế tác dụng không như vậy”. Theo thống kê của cơ quan quản lý thì các sản phẩm, dịch vụ quảng cáo sai sự thật thường tập trung vào nhóm hàng hóa mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, chăm sóc sắc đẹp, đồ gia dụng... Ngoài việc tin vào quảng cáo quá mức, nhiều NTD khi mua sản phẩm không chú ý đến thông tin về sản phẩm mà chủ yếu dựa vào thương hiệu, thậm chí có NTD còn không quan tâm đến hạn sử dụng của sản phẩm (một trong những yếu tố quan trọng để đảm bảo chất lượng, tuổi thọ của sản phẩm).

Chị Đặng Thu Thủy – C5 khu đô thị Định Công - cho biết: “Sau khi xem nhiều nhãn hàng mỹ phẩm thấy hãng Maybelline quảng cáo đang có chương trình khuyến mãi. Thiết nghĩ đây là hãng mỹ phẩm có uy tín chất lượng, tôi quyết định mua hộp phấn, nhưng khi xem nhãn mới phát hiện hàng cận date (31.3.2011)”. Chị Thủy chỉ là một trong rất nhiều NTD khi mua hàng quên mất thói quen kiểm tra nhãn hàng, đây chính là cơ hội tốt để một số nhà sản xuất, nhà cung cấp sản phẩm “lờ” đi thành phần hàng hóa, hạn sử dụng, nhãn phụ (theo quy định đối với hàng nhập khẩu)...

Theo các văn phòng khiếu nại và bảo vệ NTD, mặc dù tình trạng quảng cáo sai sự thật về chức năng, công dụng, dịch vụ đang diễn ra tràn lan trên các đài, báo, mạng bán hàng trực tuyến, kể cả các tờ rơi phát đại trà trên đường gây thiệt hại cho không ít NTD, nhưng nhiều NTD vẫn có tâm lý ngại khởi kiện, khiếu nại đơn vị quảng cáo sai sự thật.

Theo thống kê của văn phòng phía nam - Hội Bảo vệ NTD VN và Hội Bảo vệ quyền lợi NTD TPHCM: Số vụ NTD đến khiếu nại những năm gần đây giảm dần, nhưng qua tìm hiểu cho thấy không phải số vụ vi phạm đối với quyền lợi NTD giảm, mà do tâm lý NTD ngại khiếu nại vì sợ tốn thời gian mà không biết được có giải quyết được hay không khi quyền lợi bị xâm hại. Bà Đào Thị Cúc – chuyên viên văn phòng Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ NTD VN - cho biết thêm: “Năm 2010, đáng chú ý là khi số đơn khiếu nại giảm thì số cuộc điện thoại gọi văn phòng để phản ánh chất lượng hàng hoá, dịch vụ và nhờ tư vấn cách giải quyết lại tăng gấp 3 lần so với năm 2009. Đó là chưa kể đến nhiều trường hợp do NTD khi mua hàng không yêu cầu xuất hóa đơn, nên khi gặp phải hàng kém chất lượng, hàng giả, nhái rất khó khiếu nại”.

Bài 2: Quảng cáo sai, ai xử lý?
Tác giả Mộng Thoa - Thu Hà (Lao động)

30 tháng 10, 2010

Dự Thảo Luật Bảo Vệ Quyền Lợi NTD: Xử Lý Nghiêm Quảng Cáo Sai

ĐB Nguyễn Thị Kim Bé (Kiên Giang) kiến nghị như vậy khi thảo luận về dự án Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (dự kiến thông qua tại kỳ họp này), chiều 29-10.

Đại biểu Quốc hội Bùi Thị Lệ Phi phát biểu . Ảnh: TTXVN

Người tiêu dùng luôn ở thế yếu

ĐB Bé cho hay, hiện có rất nhiều quảng cáo có nội dung sai sự thật, khiến người dân bức xúc. Có nhiều trường hợp do tin vào quảng cáo mà tiền mất tật mang. “Vậy ai sẽ bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng trong trường hợp đó? Luật phải qui định rõ đơn vị quảng cáo phải chịu trách nhiệm về nội dung quảng cáo. Nếu quảng cáo sai sự thật, phải bị xử lý nghiêm”- ĐB Bé kiến nghị.

“Tình trạng nhập nhằng quảng cáo về sữa: Sữa tươi thanh trùng, tiệt trùng…khiến người tiêu dùng không sao hiểu nổi, không biết lựa chọn sản phẩm thế nào. Khảo sát thị trường, có khoảng 40% sữa tươi tiệt trùng không phải sửa là tươi nguyên chất. Người tiêu dùng sử dụng mà không biết quảng cáo không đúng” - ĐB Dương Kim Anh (Trà Vinh) lo ngại.

Để ngăn chặn các tổ chức, cá nhân lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người tiêu dùng để tiêu thụ sản phẩm kém chất lượng, qua hình thức cứu trợ người dân bị thiên tai… ĐB Bùi Thị Lệ Phi (Cần Thơ) cho rằng phải coi đây là một dạng vi phạm, ảnh hưởng đến người tiêu dùng, cần bổ sung quy định xử lý.

Nhấn mạnh đến vị trí yếu thế của người tiêu dùng, đó là không được cung cấp đầy đủ thông tin về sản phẩm, dịch vụ, đôi khi ở vào thế buộc phải chấp nhận hàng hóa, dịch vụ đó, ĐB Kim Anh nêu ví dụ: “Điện lúc có lúc không, cách cung ứng điện hiện nay ảnh hưởng rất lớn đến người tiêu dùng. Gây thiệt hại, đơn vị cấp điện phải bồi thường.

Thế nhưng, thực tế, nhiều hợp đồng điện, nước, người tiêu dùng không được đàm phán, phải chấp nhận các điều kiện do bên cung cấp đưa ra. Cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu để người tiêu dùng là những đối tượng yếu thế được bảo vệ tốt hơn”.

Chính quyền cơ sở phải vào cuộc

Các ĐB đều nhất trí cao qui định Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Nói về vai trò của Hội bảo vệ người tiêu dùng, ĐB Nguyễn Đình Xuân (Tây Ninh) kiến nghị: “Nhà nước cần có nguồn chi cho Hội, chính là mọi công dân đã đóng thuế cho Nhà nước”.

ĐB Nguyễn Thị Thu Hà (Gia Lai) nói thêm, phải làm rõ vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trong việc xác định giá thực của hàng hóa, tránh người tiêu dùng bị thiệt hại vì ép giá.

“Nên khuyến khích, tạo điều kiện (pháp lý, kinh tế) để qui định các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khả thi. UBND các cấp cần chủ động hơn trong việc quản lý hoạt động thương mại trên địa bàn để để bảo vệ người tiêu dùng” - ĐB Điểu Điều (Bình Phước) kiến nghị.

ĐB Trần Thị Quốc Khánh (Hà Nội) nhìn nhận, chúng ta cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đối với hàng hóa, dịch vụ có khả năng gây tác hại đối với người tiêu dùng. Đây là phương pháp đã được nhiều nước áp dụng, không chỉ giúp bảo vệ người tiêu dùng, mà còn nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, cung ứng hàng hóa.

“Nhiều năm qua UBND xã, phường không làm tốt công tác bảo vệ người tiêu dùng, để xảy ra buôn bán mất trật tự, mất vệ sinh tại các đô thị. Vì vậy phải quy định về việc nâng cao trách nhiệm xã phường trong vấn đề đó”- ĐB Khánh nói.
Nguyễn Tuấn (báo Tiền Phong)

12 tháng 10, 2010

Hãng Sữa Dutch Lady “Lờ” Khiếu Nại Của Người Tiêu Dùng

Sau khi con trai 3 tuổi uống sữa tươi Cô gái Hà Lan bị đau bụng, anh Đỗ Văn Hải đã gọi điện nhiều lần đến hãng sữa nhưng không ai nghe máy. Chỉ đến khi anh Hải mang 4 hộp sữa có “vấn đề” đến Báo Laodong phản ánh thì đại diện hãng sữa mới xuất hiện.

Bé 3 tuổi uống sữa Cô gái Hà Lan bị đau bụng, đi ngoài

Trong đơn gửi đến Tòa soạn, anh Đỗ Văn Hải, địa chỉ tại số 14 Ngách 36, Ngõ Thịnh Quang (Đống Đa, Hà Nội) - bố của cháu Đỗ Nam Anh (3 tuổi) - cho biết: Sáng 3.10, anh có mua 1 lốc sữa tươi, vị sôcôla (4 hộp, loại 180ml) của hãng Dutch Lady - Cô gái Hà Lan, tại cửa hàng sữa gần nhà ở số 5A Tập thể Vĩnh Hồ cho con trai uống khi đi chơi Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

 khiếu nại sữa cô gái Hà Lan
Anh Đỗ Văn Hải (giữa) đang trình bày sự việc với PV và đại diện hãng sữa Dutch Lady.

Anh Hải cho biết, bình thường cháu Nam Anh rất thích uống sữa, chỉ uống một hơi là hết cả hộp. Nhưng hôm đó cháu mới uống được 1/3 hộp thì nhất khoát không uống nữa và nói rằng “sữa cay lắm”. Chị Mỹ Hạnh – mẹ của bé uống thử một ngụm thì cũng không thể nuốt nổi và nhổ ra ngay vì thấy mùi vị bất thường.

Ngay sau đó, anh Hải cũng uống thử 1 ngụp thì thấy có mùi chua, có vị đắng và mùi thiu. Khi kiểm tra kĩ thì thấy vỏ hộp có hiện tượng phình cả 2 phía, vỏ hộp trầy xước. Kiểm tra hạn sử dụng thì vẫn còn khá xa, đến tận 17.1.2011.

Hộp sữa có vị chua, lợn cợn mà anh Hải đã mua.
Hộp sữa có vị chua, lợn cợn mà anh Hải đã mua.

Ngay trưa hôm đó (3.10), anh Hải đã điện thoại đến bộ phận Chăm sóc khách hàng theo số máy 18001545 ghi trên bao bì để phản ánh về hiện tượng bất thường của hộp sữa, nhưng đầu dây bên kia có người nhấc máy rồi lại cúp máy(!?). Anh Hải liên tục gọi tới số máy trên 7 lần, nhưng chỉ nhận được tín hiệu tương tự.

Đến chiều ngày 3.10, sau khi ngủ dậy, cháu Đỗ Nam Anh bắt đầu có biểu hiện khó chịu và bị nôn. Cháu còn kêu đau bụng và đi ngoài lỏng. Anh Hải gọi điện cho bác sĩ quen nói về bệnh tình của con và kể lại chuyện ban sáng cháu có uống hộp sữa bị thiu. Theo hướng dẫn của bác sĩ, anh Hải cho con uống thuốc đi ngoài, đồng thời cho cháu uống nhiều nước.

“Tối hôm đó, cháu không chịu ăn cơm. Cả hai vợ chồng ép buộc thì cháu chỉ ăn được vài thìa, rồi nói “mẹ ơi con mệt”. Tôi rất lo về tình hình sức khoẻ của cháu và theo dõi tình trạng sức khoẻ của cháu. Tối hôm đó thì cháu vẫn ngủ bình thường và có vẻ hết hiện tượng đi ngoài cũng như đau bụng. Vì vậy tôi cũng không đưa cháu đến cơ sở y tế khám nữa” - Anh Hải trình bày.

Anh Hải thở phào vì cũng may con trai anh mới chỉ uống hết 1/3 hộp sữa hỏng. “Nếu đã uống hết hộp, thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Đặt trường hợp nếu như những đứa trẻ nhỏ tuổi hơn (không biết gì), uống hết cả hộp sữa đấy thì tôi thật sự không hiểu các cháu sẽ xảy ra tình trạng ngộ độc như thế nào nữa?” - anh Hải Bức xúc.

Hãng sữa chỉ xuất hiện khi báo chí vào cuộc

Sáng ngày 4.10, anh Hải tiếp tục liên lạc với hãng sữa những vẫn không nhận được sự hợp tác của hãng sữa Dutch Lady. Qúa bức xúc, anh Hải đã trực tiếp mang 4 hộp sữa (trong đó có 1 hộp đã uống dở) đến tòa soạn laodong.com.vn phản ánh. Tại tòa soạn, anh Hải một lần nữa liên lạc với hãng sữa thì lúc đó ông Đào Đức Cường - đại diện hãng Dutch Lady mới nói sẽ đến tòa soạn để gặp khách hàng.

Trong buổi làm việc tại tòa soạn, ông Đào Đức Cường - đại diện hãng Dutch Lady đã xác nhận 4 hộp sữa Dutch Lady (loại hộp 180ml, hương vị sôcôla) mà anh Đỗ Văn Hải đã mua là sữa chính hãng của Cty.

Trước khi lập Biên bản tiếp nhận phản ánh của khách hàng, ông Đào Đức Cường đã uống thử một ngụm sữa trong hộp sữa “có vấn đề” và thừa nhận “có vị chua”, khi đổ ra cốc thì thấy có hiện tượng “lợn cợn”. Ông Cường hứa sẽ có kết luận trả lời khách hàng và PV trong vòng 1 tuần.

Ngày 9.10, PV Laodong nhận được thư trả lời của ông Trần Quốc Huân - Giám đốc tiếp thị thương mại của hãng Dutch Lady. Trong thư trả lời, đại diện Dutch Lady khẳng định: “Kết quả kiểm định trên các mẫu lưu cùng lô với lô sữa mà con anh Hải đã uống được thực hiện tại bộ phận Quản lý chất lượng của Cty đều đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng quy định cả về cảm quan, vi sinh và hóa lý theo đúng với Công bố chất lượng của Cty tại Cục VSATTP - Bộ Y tế Việt Nam”. Tuy nhiên, hãng sữa đã không gửi bản kết quả kiểm nghiệm này tới báo.

Trong thư, ông Trần Quốc Hưng cũng cho biết để khách quan, Cty đã gửi mẫu lưu cùng lô sản phẩm trên đến Tổng Cục đo lường Chất lượng – Trung tâm kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng (Quatest) để kiểm nghiệm và sẽ có thông tin đến khách hàng và Tòa soạn khi có kết quả chính thức.

Ngay sau khi nhận được thư trên, anh Đỗ Văn Hải đã liên lạc với PV và tỏ ra không hài lòng với cách giải quyết của Dutch Lady, khi trong thư Dutch Lady gửi tới không có một lời xin lỗi khách hàng cũng như chỉ bồi hoàn 4 hộp sữa Dutch Lady mới.

Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin tới bạn đọc về sự việc này.

Theo Minh Nhật - Lê Đạt (Lao Động)

8 tháng 9, 2010

Sử Dụng Hàng VN: Để Người Dùng Phải Hãnh Diện Khi Lựa Chọn

Thắc mắc của doanh nghiệp về tâm lý sính ngoại của người tiêu dùng đã tìm được lời giải khi người tiêu dùng TP.HCM có khuynh hướng thể hiện hình ảnh bản thân qua sản phẩm họ mua dùng, mà điều này hàng Việt Nam chưa thể hiện tốt.

đại sứ hàng Việt
Chưa nhiều sản phẩm hàng Việt Nam tạo được sự tự hào nơi người dùng. Ảnh: Hữu Bảo

“Trong sâu thẳm, người Việt Nam luôn có tinh thần yêu nước, nhưng trên thực tế mua sắm tiêu dùng hiện nay thì người Việt lại sính hàng ngoại. Trong bối cảnh Chính phủ đang kêu gọi người Việt dùng hàng Việt, doanh nghiệp phải làm gì để người tiêu dùng ủng hộ hàng Việt?”, câu hỏi mà ông Nguyễn Bắc Sơn, giám đốc marketing của công ty Điện Quang nêu tại hội thảo “Thấu hiểu người tiêu dùng để kinh doanh thành công” (do báo Sài Gòn Tiếp Thị phối hợp với hội doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao, trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) thực hiện vào ngày 7.9.2010 tại TP.HCM), cũng là suy nghĩ của nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.

Điều mà ông Sơn và các doanh nghiệp thắc mắc về tâm lý sính ngoại của người dùng, qua kết quả điều tra, tìm được lời giải khi người tiêu dùng TP.HCM có khuynh hướng thể hiện hình ảnh bản thân qua sản phẩm họ mua dùng, mà điều này hàng Việt Nam chưa thể hiện tốt. Trong con mắt của nhà xã hội học – kinh tế, giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm nhìn hành vi tiêu dùng như một thể loại ngôn ngữ mà người tiêu dùng muốn kể cho người khác nghe về bản thân họ. Chính vì vậy mà hàng Việt Nam ngoài các công năng, chức năng đáp ứng nhu cầu của người dùng còn phải tạo được sự hãnh diện cho người dùng khi lựa chọn hàng Việt. Ông Thiêm cho rằng, tâm lý chuộng hàng nội chỉ thắng thế khi đại bộ phận người Việt hãnh diện rằng quyết định lựa chọn hàng Việt của họ là một quyết định đúng đắn và thông minh.

Từ kết quả nghiên cứu hành vi tiêu dùng của người dân đô thị ở TP.HCM do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức thực hiện trong suốt một năm từ tháng 6.2009 tới 6.2010, hơn 200 doanh nghiệp tham dự hội thảo có cơ hội đặt mình vào vị thế người tiêu dùng để hiểu rõ suy nghĩ, đòi hỏi của người dùng thông qua hành vi mua sắm, cách thức chọn lựa hàng hoá hay dịch vụ.

Bà Cao Thị Ngọc Dung, tổng giám đốc công ty PNJ cho rằng, nghiên cứu để hiểu được xu hướng tiêu dùng đang trở thành điểm then chốt trong chiến lược về thị trường, phát triển sản phẩm cũng như định vị cho các thương hiệu.

Nhìn ở góc độ nào, thì hành vi tiêu dùng luôn nằm trong mạng xã hội, mỗi cá nhân đánh giá về mình qua sự đối chiếu với người xung quanh. Do vậy, tiêu dùng là hành vi vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội. Qua hành vi tiêu dùng có thể thấy được nhân sinh quan của một xã hội. Vì vậy nhà kinh doanh muốn định hướng được tiêu dùng thì phải làm sao thấu hiểu hành vi tiêu dùng. Có như vậy, doanh nghiệp mới có được khách hàng thật sự lâu dài.

Bà Vũ Kim Hạnh, giám đốc BSA chia sẻ, yêu hàng Việt hiện nay không thể kêu gọi mù quáng, hay theo phong trào, mà nhà sản xuất kinh doanh phải thể hiện được những giá trị vượt trội để chứng minh cho người tiêu dùng cảm nhận được.
Theo SGTT

1 tháng 9, 2010

Ăn Đến 5 Tỷ Gói Mì Tôm/Năm, NTD VN Rước Bao Bệnh?

Mặc dù được cảnh báo sẽ gặp vô số bệnh nếu dùng thường xuyên nhưng người tiêu dùng Việt Nam vẫn sử dụng đến 5 tỷ gói mì tôm mỗi năm.

Nội dung trên được đưa ra tại buổi tọa đàm “hiểu đúng về mì tôm” do báo Khoa học&Đời sống tổ chức sáng ngày 30/8 .

Mỳ tôm = Không vitamin, không protein

PGS.TS. Phan Thị Sửu, Giám đốc Trung tâm kỹ thuật an toàn vệ sinh thực phẩm, thuộc Hội Khoa học Kỹ thuật an toàn thực phẩm Việt Nam phân tích: Quá trình sản xuất mì ăn liền được chiên trong dầu shorterning ở nhiệt độ cao nên dầu dễ bị oxy hóa và nếu dầu dùng để chiên đi chiên lại nhiều lần sẽ có khả năng tạo ra các chất béo dạng Trans fat.

Ngoài ra, gói gia vị của mì chứa rất nhiều chất phụ gia, tuy chúng có tác dụng tạo sự ngon miệng cho người ăn nhưng sẽ rất nóng, người huyết áp cao hoặc thân nhiệt cao nên dùng ít loại mì có gia vị cay.

Trans Fat trong mì gói
Việt Nam được xem là một trong những nước tiêu thụ mì ăn liền nhiều nhất châu Á (ảnh diendansvitc.net)

Bà Sửu khẳng định, giá trị dinh dưỡng của mì ăn liền là không cân bằng vì thiếu đạm động vật và vitamin từ rau quả tươi. Mì ăn liền chủ yếu cung cấp chất bột từ bột mì và 9% chất đạm thực vật - cũng từ bột mì, nếu trộn khoai tây vào thì hàm lượng đạm sẽ rất thấp, khoai tây chỉ chứa 1 - 2% protein.

Ngoài ra, bà Sửu dẫn từ nghiên cứu của các chuyên gia tại Viện Dinh dưỡng của Học viện Khoa học Nga cho thấy, thường xuyên sử dụng các sản phẩm ăn liền sẽ hại đến gan, tuyến tụy và gây chứng viêm dạ dày. Không những thế, mì ăn liền còn ảnh hưởng đến hệ miễn dịch, mạch máu, gây tình trạng thiếu vitamin và khoáng chất.

Vì vậy, khuyến cáo được đưa ra là không nên dùng mì ăn liền thay cho các bữa ăn chính hằng ngày vì mì ăn liền thường chỉ cung cấp nhiều calo chứ không cung cấp đủ vitamin hay protein cho cơ thể.

Không thể thiếu?

Tuy vậy, tại Việt Nam lại ghi nhận, sử dụng mì ăn liền đã trở thành thói quen không thể thiếu của NTD Việt Nam với mức tiêu thụ từ 1-3 gói/người/tuần.

Hai năm trước (năm 2008), hơn 50 doanh nghiệp (DN) đã sản xuất mì ăn liền trong nước, đạt sản lượng khoảng 5 tỷ gói/năm. Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt từ 15% -20%. “Thật khó để liệt kê hết những loại mì ăn liền đang bày bán trên thị trường hiện nay. Tại các siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng, chợ, sản phẩm mì gói của các DN như Vina Acecook, Asia Food, Vifon, Uni-President, Massan, Miliket… đang chiếm lĩnh hơn 90% thị phần với hàng trăm nhãn hiệu khác nhau. Đó là chưa kể, hàng chục nhãn hàng nước ngoài…”, bà Sửu nói.

Theo dự báo mới nhất, Việt Nam được xem là một trong những nước tiêu thụ mì ăn liền nhiều nhất châu Á với sản lượng sẽ tăng lên khoảng 6-7 tỷ gói trong vòng 3 năm tới. Hướng tới, các doanh nghiệp sẽ không đi vào sản xuất theo chiều rộng mà tập trung vào chiều sâu và đa dạng hóa sản phẩm với mì gói, mì ly, mì tô, mì không chiên, mì tươi.

Tiềm năng như vậy nhưng gần đây, Trung tâm Dịch vụ Phân tích Thí nghiệm thuộc Sở Khoa học&Công nghệ TP.HCM đã phát hiện Trans fat có trong nhiều sản phẩm mì gói đang tiêu thụ trên thị trường với con số đáng giật mình (có tới 38% mẫu mì gói có chứa Trans fat), điều này sẽ khiến NTD rất băn khoăn khi chọn mua sản phẩm mì ăn liền.

Không tiêu chuẩn?


Giải tỏa những băn khoăn của NTD, trên thế giới các nhà sản xuất phải cam kết không dùng dầu chiên chứa Trans fat và ghi rõ sản phẩm không chứa chất béo độc hại này trên bao bì.

Tại Đan Mạch, Anh, Mỹ, Canada, từ năm 2003, chính phủ đã ban hành luật cấm dùng các loại dầu có chứa hàm lượng Trans fat cao hoặc yêu cầu các công ty sản xuất thực phẩm phải ghi rõ hàm lượng chất này trên bao bì để người tiêu dùng biết mà lựa chọn

Buổi tọa đàm không có sự tham gia của Bộ Y tế cơ quan "gác mâm" về vấn đề này cũng như các doanh nghiệp sản xuất mì tôm. Nhưng điểm ấu chốt cho việc chưa giải quyết băn khoăn cho NTD là tại Việt Nam chưa có bất cứ quy định nào của cơ quan quản lý thực phẩm về Trans fat. Theo GS, TS Hoàng Đức Như, Phó chủ tịch hội dinh dưỡng TP HCM, điều này do cơ quan quản lý nhà nước quá chậm vì mì tôm được cảnh bảo từ năm 2007 nhưng đến nay tiêu chuẩn phân tích chưa, chuẩn dinh dưỡng đều chưa có.

Theo bà Lê Bạch Mai, Phó viện trưởng Viện dinh dưỡng quốc gia, nhà sản xuất nên công bố giá trị dinh dưỡng, năng lượng, thành phần tạo nên giá trị dinh dưỡng, đặc biệt là chất lượng chất béo, trans fat, axit béo 1 nối đôi, axit béo nhiều nối đôi… “Tuy nhiên các hàm lượng dinh dưỡng này phải được công bố dựa trên việc đo lường sản phẩm đã ra đời chứ không phải tính toán dựa trên nguyên liệu đầu vào”

Bà Sửu đưa ra giải pháp, người tiêu dùng cần phải tự bảo vệ bản thân bằng cách chọn mua các sản phẩm của các nhà sản xuất có thương hiệu, nhất là các cơ sở đã áp dụng Hệ thống quản lý An toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn Quốc tế HACCP/ISO 22000 vì các cơ sở này đã thực hiện sản xuất các sản phẩm đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Còn các nhà sản xuất cần phải công bố trên nhãn mác sản phẩm của mình không có Trans fat để người tiêu dùng yên tâm lựa chọn khi mua mì ăn liền.

Ăn mì ăn liền thế nào phù hợp?

“Chúng ta thấy mì ăn liền có nhiều tiện ích và khẩu vị phù hợp với nhiều đối tượng. Cơ quan chúng tôi từng khám cho 1 cháu bé được bố cho đến khám với lo lắng dùng liên tục mì tôm trong 7 năm liên (cháu bé 7 tuổi) nhưng chiều cao, cân nặng, xét nghiệm máu đều không có biểu hiện bất thường.

Để bảo đảm an toàn cho sức khỏe khi ăn mì ăn liền, chúng ta nên bổ sung thêm rau xanh và các loại đạm từ thịt, trứng để bù đắp lượng vitamin và protein thiếu hụt của mì ăn liền. Không nên ăn mì ăn liền hàng ngày vì sẽ dẫn đến thiếu vitamin và dưỡng chất nhất là đối với những người bị bênh tim mạch", Thạc sĩ Lê Thị Hải, Giám đốc Trung tâm khám và tư vấn dinh dưỡng cho biết.
-----------------
"Trans fat là loại chất béo nguy hiểm nhất trong nhóm các chất béo gây hại. Nó làm tăng mức LDL-cholesterol (cholesterol xấu) trong máu do đó làm tăng khả năng bị các bệnh tim mạch.

Ngoài ra, chất béo này khi xâm nhập vào cơ thể sẽ gây đông đặc máu và tạo ra những mảng bám vào thành mạch, dần dần làm hẹp lòng mạch máu, từ đó dẫn đến nguy cơ đột quỵ".
Theo VTC

25 tháng 8, 2010

Thị Trường Sữa: Lại “Siết” Giá Sữa

Nhùng nhằng mãi rồi Bộ Tài chính cũng đã ra được văn bản mới (Thông tư số 112) nhằm "siết" lại việc quản lý giá sữa tại Việt Nam. Theo quy định này, doanh nghiệp phải đăng ký giá sữa pha chế theo công thức dạng bột dành cho trẻ em dưới 6 tuổi. Việc đăng ký giá bán cũng phải thực hiện trước khi các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh lần đầu đưa mặt hàng này ra thị trường và trước mỗi đợt điều chỉnh giá bán.

Lại siết giá sữa
Ảnh: Internet

Có thể nói quản lý giá sữa là vấn đề rất bức xúc từ nhiều năm qua. Mỗi lần giá sữa ào ạt tăng cũng là lúc dư luận bức xúc. Các nhà quản lý cam kết sẽ có giải pháp bình ổn thị trường, doanh nghiệp viện đủ lý do như giá nguyên liệu trên thị trường thế giới tăng, thậm chí cả việc ngân hàng tăng tỷ giá ngoại tệ... Để rồi đâu lại vào đó. Và rồi những quy định mới thay cho các chế tài đã lỗi thời về quản lý giá sữa vẫn chỉ là hy vọng chơi vơi.

Giờ đây đã có một văn bản quy định chế tài cụ thể cho việc quản lý mặt hàng thiết yếu này. Thông tư số 122 của Bộ Tài chính đã khắc phục không ít bất cập giữa nhu cầu quản lý và thực tế vận hành. Ví như tại Thông tư 104 hướng dẫn thi hành Nghị định 75 của Chính phủ về Pháp lệnh Giá quy định, doanh nghiệp vốn điều lệ có 50% sở hữu nhà nước trở lên phải đăng ký giá. Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam, hầu hết các liên doanh sữa, doanh nghiệp đều không đạt được tỷ lệ vốn sở hữu nhà nước cao như vậy, cho nên cơ quan quản lý không thể yêu cầu được các công ty này phải niêm yết giá.

Một vấn đề nữa, theo quy định, trong thời gian tối thiểu 15 ngày liên tục, giá bán lẻ sữa tăng từ 20% trở lên so với giá thị trường trước khi có biến động, cơ quan chức năng có quyền áp dụng các biện pháp bình ổn giá. Thế nhưng trên thực tế, mỗi lần điều chỉnh giá, các hãng sữa chỉ tăng khoảng 5-7% giá bán và như vậy vẫn nằm dưới mức quy định 20%. Vì thế, về lý thuyết không có chuyện tăng giá đến mức độ các cơ quan quản lý phải ra tay can thiệp. Và không ít doanh nghiệp đã lợi dụng những khoảng trống trong qui định này để "lách luật" tăng dần giá bán sữa.

Cũng phải nói rằng, đã không ít lần các nhà quản lý tìm cách ổn định giá sữa như việc Vụ Chính sách Thuế, Bộ Tài chính đề xuất áp giá trần đối với mặt hàng này để ngăn tình trạng "loạn" giá. Thế nhưng, với hàng nghìn loại sữa đang bán trên thị trường, giải pháp ấy không khả thi. Do vậy, Thông tư 112 của Bộ Tài chính được xem là bước tiến mới trong quản lý giá sữa và đem lại hy vọng cho người tiêu dùng.

Tuy nhiên, vận hành kinh tế thị trường, chúng ta phải chấp nhận "luật chơi" của cơ chế này. Quyền quyết định tăng giá hay giảm giá vẫn ở trong tay doanh nghiệp. Do vậy, việc tăng giá sữa rất có thể sẽ tiếp tục diễn ra ở các mức độ khác nhau, người tiêu dùng cần chủ động hơn và rất cần thiết phải thể hiện rõ thái độ của mình trong ứng xử với doanh nghiệp sản xuất mặt hàng này. Thậm chí có quyền quay lưng lại với những sản phẩm giá quá bất hợp lý. Một khi các "thượng đế" vẫn chấp nhận rút hầu bao, dù chất lượng sản phẩm chưa xứng với giá thành thì nỗ lực của các nhà quản lý cũng khó mang lại hiệu quả như mong muốn.
Theo Hà nội mới

11 tháng 8, 2010

Sức Mạnh Của Người Tiêu Dùng

Sản phẩm do Vedan sản xuất ra bị người tiêu dùng tẩy chay. Vedan đang phải trả giá đắt cho hành vi xả thải hủy hoại môi trường và thái độ cù cưa, không chịu trách nhiệm bồi thường cho nông dân ven sông Thị Vải về hậu quả môi trường do Vedan gây ra.

người tiêu dùng
Ảnh: Internet

Thái độ xuống nước, chấp nhận mức bồi thường 100% cho nông dân TPHCM và Bà Rịa- Vũng Tàu của Công ty Vedan đã chỉ ra rằng, khi người tiêu dùng hiểu và sử dụng hết quyền của mình thì sức mạnh của người tiêu dùng vô cùng lớn. Đây là bài học đắt giá cho những doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận mà bất chấp những quy định của pháp luật về kinh doanh và môi trường.

Bài học này được liên hệ rất gần gũi với các doanh nghiệp sữa bột. Câu chuyện giá sữa bột ngoại mà Tiền Phong đã phản ánh trong thời gian qua, rõ ràng người tiêu dùng đang bị các doanh nghiệp sữa “móc túi” qua việc liên tục tăng giá bán.

Phản ứng của dư luận trước những đợt tăng giá sữa diễn ra hồi đầu năm 2010 đã khiến nhiều hãng sữa bột phải cam kết sẽ giữ ổn định giá bán. Tuy nhiên, khi những phản ứng nhất thời này qua đi, một đợt tăng giá sữa mới lại bắt đầu từ cuối tháng 7- 2010 đến nay.

TS Vũ Đình Ánh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính) cho rằng, ở nước ngoài, khi một doanh nghiệp được cho là tăng giá bất hợp lý, sản phẩm của họ sẽ rất khó tiêu thụ, thậm chí bị tẩy chay. Trong khi đó ở Việt Nam, nhiều người vẫn chấp nhận mua sữa đắt tiền để khẳng định “đẳng cấp” dù chất lượng những loại sữa này chưa hẳn đã tương xứng với giá bán.

Tuy nhiên, cũng không thể trách người tiêu dùng bởi họ rất thiếu thông tin và bị những quảng cáo “phải dùng sữa ngoại đắt tiền con mới thông minh” chi phối. Những quảng cáo dồn dập về giá trị dinh dưỡng của sữa bột ngoại khiến nhiều bà mẹ ngộ nhận và đặt niềm tin sai địa chỉ. Thế mới xảy ra thực tế mỗi năm các bà mẹ Việt Nam đã lãng phí khoảng 270 triệu USD cho việc nuôi con bằng sữa bột, trong khi hoàn toàn có thể nuôi bằng sữa mẹ.

Hiện chỉ có 10% trẻ nhỏ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời, 90% còn lại đã và đang bị thiệt thòi vì sự lãng phí nguồn tài nguyên quý giá từ sữa mẹ của chính những bà mẹ đang nuôi con nhỏ. Nhưng điều gì cũng có giới hạn. Các doanh nghiệp sữa ngoại cần thấy bài học từ sự kiện người tiêu dùng quay lưng với sản phẩm của Vedan. Không thể vì lý do đang độc quyền, thống lĩnh thị trường mà muốn làm gì cũng được, cụ thể là hành vi tăng giá vô tội vạ.

Nếu người tiêu dùng được thông tin đầy đủ, hiểu được rằng sữa bò tươi mới là nguồn dinh dưỡng tốt nhất sau sữa mẹ, có nhiều sự lựa chọn hơn từ các sản phẩm sữa bột nội, khi đó chúng ta có cơ sở tin rằng người tiêu dùng Việt Nam sẵn sàng tẩy chay những sản phẩm sữa bột ngoại có giá bán cao vô lý. Sức mạnh của người tiêu dùng lớn là ở điều đó.
Theo Tiền Phong

7 tháng 8, 2010

Người Việt Sính Hàng Ngoại, Doanh Nghiệp Cũng Có Lỗi

Có nhiều ý kiến cho rằng người Việt sính hàng ngoại, chơi "ngông" nhưng theo ý kiến của nhiều chuyên gia, điều này không hoàn toàn đúng.

Tại buổi tọa đàm “Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt” do Báo Đại đoàn kết phối hợp với VTV tổ chức sáng ngày 6/8, nhiều chuyên gia kinh tế - xã hội đều có một nhận định chung rằng: Nguyên nhân người tiêu dùng (NTD) chưa mặn mà với hàng Việt là do chất lượng, mẫu mã, giá cả chưa hợp lý chứ không phải vì tâm lý “sính ngoại”.

Không thể đổ cho NTD sính ngoại

Theo TS Nguyễn Quang A, "hiện nay, chúng ta cứ đổ cho NTD sính ngoại nhưng chưa có số liệu nghiên cứu nghiêm túc nào về quy kết này để làm bằng chứng NTD có sính ngoại thật không? Vì sao sính ngoại, hoặc có tìm ra được bằng chứng “sính” ngoại nhưng chưa tìm ra được nguyên nhân dẫn tới tình trạng đó”.

Tâm lý “sính ngoại” có lẽ chỉ đúng với một bộ phận còn đại đa số NTD thích hàng rẻ, tốt và bắt mắt. TS Cao Sỹ Kiêm - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam - nhận xét: “Nói NTD sính hàng ngoại là vì họ không có đủ thông tin về chất lượng sản phẩm hàng hóa nên vẫn phải mua hàng ngoại, dù giá đắt hơn hàng nội trong khi chất lượng tương đương”.

Cũng đồng tình với quan điểm trên, bà Phạm Thị Loan - đại biểu Quốc hội, Chủ tịch HĐQT - TGĐ Tập đoàn Việt Á - cũng cho rằng: "Từ trước tới nay, người Việt chỉ an tâm nhất là mua hàng ngoại và nghĩ như thế là yên tâm. Bởi một lẽ, hàng nội chưa chứng minh được chất lượng, chưa lấy được lòng tin của người dân. “Mặc dù hàng của mình tốt nhưng chưa lấy được lòng tin của dân thì dân cũng chưa tin”.

thủ công mỹ nghệ
Nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam vẫn được nhiều NTD ưa chuộng và lựa chọn, chiếm ưu thế hơn so với hàng ngoại nhập

Theo đánh giá của Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ NTD Việt Nam, một năm sau cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” do Bộ Chính trị phát động, ý thức của NTD nước ta có những chuyển biến ban đầu. Nhiều yêu cầu của NTD đã được hàng nội đáp ứng, do đó tâm lý sính hàng ngoại của một bộ phận người dân đã có thay đổi, phong cách tiêu dùng mới dần được xây dựng. Doanh thu của một số hàng nội như dệt may, thực phẩm, bánh kẹo... tăng lên rõ rệt, hứa hẹn tương lai tươi sáng cho hàng nội trên thị trường.

Tuy nhiên, theo phân tích của TS Nguyễn Quang A, hàng chục năm nay, doanh nghiệp Việt Nam luôn nhập siêu. Vài năm trở lại đây, xuất siêu đã bị âm. Con số nhập luôn chênh hơn nhiều so với con số xuất: Năm 2009, xuất 57 tỷ đô la, nhập 69 tỷ đô la (nhập siêu 12 tỷ đô la). 6 tháng năm 2010, xuất khẩu 32 tỷ, nhập 38 tỷ; nhập siêu 6,2 tỷ đô la.

Để chữa "bệnh" nhập siêu, vận động “người Việt ưu tiên dùng hàng Việt” không có cách nào khác là giáo dục. “Nghe hơi kỳ nhưng đây là cốt lõi, và chúng ta phải làm dần dần, đây là biện pháp lâu bền” - TS Nguyễn Quang A khẳng định. Giáo dục ở đây phải ở 3 đối tượng: trước hết là phải giáo dục lãnh đạo: “Cứ nói người Việt sính ngoại, nhưng từ trước đến nay vẫn có câu “Nhất sĩ nhì nông” như vậy, người cầm đầu phải không sính ngoại đã, rồi hãy bảo người dân và doanh nghiệp”.

Thứ hai là giáo dục các DN. “Chừng nào hàng Việt Nam chất lượng không tốt, không có giá phải chăng thì dân không mua. Phải tự trách mình, đừng trách dân và NTD, không thể đổ cho NTD sính ngoại. Sản xuất hàng tốt vẫn chưa ăn thua mà phải đặc biệt lưu ý khâu bán hàng, tổ chức mạng lưới phân phối ra sao, tiếp thị sản phẩm đến NTD như thế nào…”, vị TS này nhấn mạnh. Tiếp đó mới đến giáo dục ý thức cho NTD.

Làm thế nào để hàng Việt có chỗ đứng trong lòng người Việt?

Nhiều ý kiến tham luận đã được đưa ra xung quanh buổi tọa đàm nhằm tìm giải pháp để vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam. Theo đó, để thay đổi nhận thức của NTD về hàng Việt, kích thích nhu cầu mua sắm, tiêu thụ hàng Việt, 4 vấn đề mà hầu hết các chuyên gia đều đã đề cập đến là:

Thứ nhất, đó là vai trò của doanh nghiệp (DN) và chất lượng của sản phẩm. Với NTD, TS Cao Sỹ Kiêm cho rằng, muốn vận động kiểu gì thì yếu tố kinh tế vẫn là mối quan tâm hàng đầu của họ khi lựa chọn hàng hóa, sản phẩm. Tuy nhiên, chất lượng đảm bảo, mẫu mã đẹp, giá cả phải chăng, những tiêu chí NTD chọn mua sản phẩm, chúng ta vẫn chưa làm được.

Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành cũng nhận xét: Yếu tố quan trọng đầu tiên là DN phải sản xuất ra hàng hóa có chất lượng để NTD có thể yên tâm sử dụng: “Anh không thể sản xuất ra hàng dởm rồi bảo “đây là hàng Việt Nam, anh cứ việc mua đi” – ông Thành khẳng định.

chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành
Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành: Yếu tố quan trọng đầu tiên là DN phải sản xuất ra hàng hóa có chất lượng để NTD có thể yên tâm sử dụng

Sau khi đã có sản phẩm tốt, điều thứ 2 cần chú trọng đó là khâu tổ chức tiếp cận thị trường, phân phối sản phẩm. Đây cũng là cái khó đối với nhiều doanh nghiệp.

Hiện nay, thói quen của nhiều NTD Việt Nam là “tiện đâu mua đó”, tuy nhiên hệ thống phân phối sản phẩm Việt Nam còn hạn chế. Nhiều người dân ở nông thôn than thở, họ muốn mua hàng nội nhưng vừa ra đến cửa, tới bất kì cửa hàng nào cũng tràn ngập thị trường hàng Trung Quốc. Mạng lưới bán lẻ ở nông thôn còn sơ khai, chưa đầy đủ.

Chính vì thế, vai trò của các nhà phân phối và bán lẻ chiếm vị trí không kém phần quan trọng. Chính người phân phối, bán lẻ đưa sản phẩm đó giới thiệu cho NTD. Nói như chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành thì người bán hàng chính là một chiến sĩ tại tiền tuyến, nếu được đào tạo tốt, mình có quân tốt, hàng tốt, DN nắm bắt được thị trường “biết mình, biết ta” thì sẽ “trăm trận trăm thắng”.

Trao đổi trong buổi tọa đàm, bà Vũ Thị Hạnh - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ DN - cho biết: "Muốn hàng Việt thâm nhập vào đời sống của người dân, bản thân các DN bán lẻ, từng người bán lẻ phải hiểu biết về sản phẩm mình giới thiệu, tự tin với những sản phẩm Việt có chất lượng, có giá trị và thích hợp với NTD Việt. Chúng ta cứ hình dung cụ thể, nếu một cô nhân viên siêu thị, một anh bán hàng lại giới thiệu với khách là: “bác ơi, đừng có mua chiếc áo này, cái chăn này, nên mua đồ của Pháp, Mỹ hay của Trung Quốc vừa rẻ, vừa đẹp, mẫu mã bắt mắt luôn", thế thì chúng ta hỏng luôn cuộc vận động ưu tiên dùng hàng Việt này”.

Để “người Việt dùng hàng Việt”, theo bà Hạnh cần có bàn tay của nhà nước trong việc có những chính sách và pháp luật thích hợp để hỗ trợ cho việc đưa hàng về nông thôn, bán hàng ở nông thôn. Đặc biệt, tạo điều kiện cho các nhà bán lẻ, các nhà sản xuất có mặt bằng, có cơ sở sản xuất,…

TS Đinh Thị Mỹ Loan cũng nêu ra mong mỏi: “Rất mong muốn nguồn lực của nhà nước, kinh phí của nhà nước cho việc nghiên cứu đừng giới hạn và đừng chỉ loanh quanh trong môi trường các viện nghiên cứu, trong các trường Đại học mà nên đưa những nghiên cứu ấy thấm đẫm hơi thở cuộc sống. Đưa về cho các DN, cho các hiệp hội sử dụng hoặc phối hợp với các hiệp hội ngành nghề trong đó có hiệp hội các nhà bán lẻ để có những nghiên cứu về NTD, nghiên cứu về thị trường, từ đó để quay trở lại phục vụ doanh nghiệp”.

Điều cuối cùng mà các chuyên gia nhắc đến trong buổi tọa đàm đó là vai trò, sức mạnh của truyền thông, tuyên truyền để thay đổi nhận thức, ý thức của NTD, kêu gọi người dân tham gia cuộc vận động một cách tích cực.

Hiện nay, ở nông thôn, người dân xem đài truyền hình là chủ yếu và họ rất tin tưởng vào những thông tin trên truyền hình. Trong khi đó, DN Việt Nam xuất hiện trên truyền hình chỉ tính trên đầu ngón tay. Chỉ có thể kể đến 2 tên tuổi nổi tiếng là Vinamilk và Tân Hiệp Phát. Theo ý kiến của TS Nguyễn Minh Phong, Viện nghiên cứu kinh tế - xã hội tại Hà Nội, vấn đề cần đặt ra là: Nhà nước cần sử dụng công cụ hệ thống truyền thông chính thức của nhà nước để hỗ trợ đắc lực cho chương trình này, bao gồm cả hỗ trợ miễn phí, truyền thông chính thức, dùng thương hiệu của cả nước để kêu gọi, vận động người dân. Có như thế mới mong hàng Việt đến tận tay NTD.

Ngoài ra, về phía NTD, ông Phong cũng hi vọng: NTD Việt Nam hãy là một NTD thông thái đồng thời phải có lòng tự trọng, tự hào dân tộc. “Tôi lấy một ví dụ: Trên bàn thờ, người dân chỉ nên mua đồ thờ Việt Nam, không mua đồ nước ngoài được. Một cái lư hương phải mua cái được làm từ đất Việt Nam, mẫu mã Việt Nam dưới bàn tay của người Việt Nam”.
Theo VTC

3 tháng 8, 2010

Sữa Ngoại Thắng "Nhờ" Quảng Cáo

Hơn 1 năm trước, lời kêu gọi "người Việt ưu tiên dùng sữa Việt" của Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam được xem là phong trào mở màn cho cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" hiện đang rất sôi nổi. Chưa có thống kê nào cho thấy lựa chọn của người tiêu dùng cho sữa nội có tăng sau hơn 1 năm kêu gọi hay không, song thực tế cho thấy sữa ngoại vẫn bán chạy gấp nhiều lần sữa nội nhờ quảng cáo dày đặc và chế độ chăm sóc người bán kỹ càng.

Người Việt ưu tiên dùng sữa Việt - Sữa ngoại thắng nhờ quảng cáo
Một nhân viên giúp khách hàng chọn mua sữa tại một đại lý. (Ảnh minh họa)

Quảng cáo nhiều, chăm sóc kỹ

Chị Trịnh Thị Chín, chủ đại lý bán sữa lâu năm ở chợ Tân Hiệp, Biên Hòa chia khách hàng của mình làm 3 dạng. Theo đó, 40% khách hàng của chị mua hàng theo quảng cáo, cứ hãng sữa nào quảng cáo hay, có sản phẩm mới thì ra hỏi mua; 40% mua hàng theo tư vấn của người bán và mua theo thương hiệu nổi tiếng, đắt tiền; 20% còn lại mua hàng theo khuyến mãi, cứ nhãn hàng nào khuyến mãi lớn thì mua. "Tuy nhiên, về cả 3 phương diện, tôi thấy các hãng sữa ngoại đều làm tốt hơn. Cụ thể, họ đầu tư quảng cáo rất nhiều vào các giờ vàng; chăm sóc hệ thống phân phối của mình rất kỹ nên nhiều người bán thích giới thiệu sữa ngoại cho khách hơn; khuyến mãi thường xuyên với quà có giá trị" - chị Chín phân tích.

Về chi phí quảng cáo, các DN trong nước chưa thể sánh với những nhãn sữa ngoại nổi tiếng của các tập đoàn đa quốc gia vốn dày dạn kinh nghiệm bán hàng. Điều này thể hiện qua kết quả thanh tra giá sữa của thanh tra Bộ Tài chính công bố trên các phương tiện truyền thông đại chúng vào cuối năm 2009. Theo đó, các nhãn sữa ngoại nổi tiếng chi phí cho hệ thống bán hàng và truyền thông quảng cáo của mình rất lớn, từ 30 - 60% giá bán sản phẩm, trong khi các DN trong nước "mạnh tay" lắm cũng chỉ dám chi từ 10 - 20% cho các khâu này.

Ngoài các chương trình quảng cáo, truyền thông "hoành tráng" và thường xuyên, các nhãn sữa ngoại còn tận dụng mọi cơ hội để lọt vào tầm mắt của người mua mà việc chi hoa hồng cho phần trưng bày tại các đại lý sữa là một ví dụ. Theo đó, nhiều nhãn sữa ngoại thường cử nhân viên đến từng đại lý, cửa hàng chọn các góc trưng bày đẹp nhất để hợp đồng với người bán. Tìm hiểu tại nhiều đại lý cho thấy, giá trưng bày 1 hộp sữa ở vị trí đẹp dao động từ 5.000 - 10.000 đồng/hộp. Với một kệ hàng khoảng 100 - 200 hộp, mỗi nhãn sữa ngoại chi tiền trưng bày cho đại lý khoảng 500 ngàn đến 2 triệu đồng/tháng, chưa kể các chi phí khác như chiết khấu % hay các chương trình khuyến mãi.

Sữa nội: ít chăm chút hệ thống phân phối

Đến bất kỳ đại lý sữa lớn nào trong TP.Biên Hòa hay các thị trấn, thị tứ ở các huyện, có thể thấy các hãng sữa ngoại đầu tư tiền của, công sức của mình vào hệ thống phân phối rất nhiều và cách làm rất bài bản. Tại đại lý sữa T. trên đường Cách mạng tháng Tám, vào giờ cao điểm luôn có 6 - 7 nhân viên trẻ mặc đồng phục của các nhãn sữa ngoại nổi tiếng đứng... phụ bán với chủ cửa hàng. Họ sắp xếp lại các kệ sữa, chăm chút cho các kệ có hàng của hãng mình, cung cấp thông tin và tư vấn cho khách đến mua, giúp khách chọn sữa, bỏ bịch, tính tiền... Chủ đại lý T. cho biết, chị gần như chỉ đứng bán, không cần phải thuê thêm nhân viên hay vất vả chạy ngược xuôi mỗi lần đông khách. Trong khi đó, các nhãn sữa nội vì nhiều lý do nên chưa chăm sóc hệ thống phân phối của mình kỹ càng bằng sữa ngoại, ít cử nhân viên phụ bán, chăm sóc kệ hàng.

Chị Sương, chủ một đại lý sữa trên đường Phạm Văn Thuận, nhận xét: "Gần đây một vài nhãn sữa nội cũng đầu tư quảng cáo mạnh như Vinamilk, Nutifood... nên cũng nhiều người hỏi mua hơn trước. Tuy nhiên, các chế độ chăm sóc hay chiết khấu % cho người bán vẫn ít hơn và không đều đặn bằng sữa ngoại. Một vài nhãn sữa khi đã đưa được hàng vào kệ của các đại lý rồi... lơ luôn, lâu lắm mới thấy nhân viên xuống kiểm tra, tư vấn một lần".

Theo tìm hiểu của chúng tôi, các hãng sữa ngoại ngoài việc chăm sóc kỹ khâu bán hàng của đại lý còn thường xuyên tổ chức các hội nghị khách hàng hoặc hội thảo dinh dưỡng, hội thảo công bố các sản phẩm mới... trong đó tư vấn rất kỹ thông tin về sản phẩm. Trong khi đó, các nhãn sữa trong nước lại ít đầu tư về mảng này. Từ đó, nhiều người bán theo thói quen, khi tư vấn sản phẩm cho khách hàng, thường chọn sữa ngoại để giới thiệu.

Người tiêu dùng lại chịu thêm sức ép vì giá sữa

Trong tuần qua, 3 nhãn hàng sữa ngoại có thị phần khá lớn lại thông báo tăng giá. Cụ thể, hãng Dumex tăng khoảng 10% cho các loại sữa bột, Friesland Campina VN tăng 6% cho một số sản phẩm sữa nước và sữa đặc, sữa XO tăng khoảng 2,5% cho các loại sữa bột. Như vậy, 1 lon sữa Dumex 900g hiện đã tăng thêm 40.000 đồng, nằm khoảng 390.000 đồng/lon. Tính từ đầu năm 2010 đến nay, các nhãn sữa ngoại đã tăng giá khoảng 3 lần với mức tăng dao động từ 2,5 - 10%/lần tăng. Nguyên nhân được các nhà nhập khẩu, sản xuất giải thích là do giá bao bì tăng, giá đường tăng, chi phí bổ sung các vi chất mới vào sữa... Một số đại lý cho biết, một số người tiêu dùng đã phản ứng khi giá sữa tăng bằng cách chuyển qua loại sữa khác có giá rẻ hơn. Theo tính toán, với mức tăng 10% của nhãn hàng Dumex, mỗi tháng người tiêu dùng phải chi thêm từ 100 - 200 ngàn đồng/tiền sữa.
Theo Báo Đồng Nai

28 tháng 7, 2010

Ưu Tiên Dùng Hàng Việt: Chưa Đồng Đều Ở Các Địa Phương

Sau 1 năm hưởng ứng cuộc vận động của Bộ Chính trị "Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt", lợi ích to lớn là đã tạo được chuyển biến trong ý thức của người dân về tiêu dùng hàng hoá sản xuất trong nước. Tuy nhiên, cuộc vận động vẫn chưa tạo được thành phong trào rộng khắp ở các địa phương.

hàng Việt về nông thôn
Nhiều DN đã thành công khi tổ chức đưa hàng hoá về nông thôn. Ảnh: P.V

Dấu ấn hàng Việt

Tính đến nay, các sở công thương các tỉnh, thành phố đã tổ chức được 68 đợt bán hàng về nông thôn, với 857 lượt DN tham gia và 1.124 gian hàng, thu hút hơn 4,7 triệu lượt khách tham quan, mua sắm, đạt doanh thu lên tới 1.467 tỉ đồng.

Ngoài ra, còn có 36 đợt bán hàng, với 303 lượt DN tham gia cùng với hơn 500 gian hàng đưa hàng về nông thôn được tổ chức tại các địa phương. Với vai trò là cầu nối giữa DN với người tiêu dùng nông thôn, Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ DN (BSA) cũng đã tổ chức hơn 40 đợt đưa hàng Việt về nông thôn với gần 500 lượt DN tham gia...

Hậu thuẫn cho các chương trình này, các sở công thương đã vào cuộc khá bài bản như tổ chức nhiều hội chợ, triển lãm nhằm quảng bá và đưa sản phẩm tới NTD một cách hữu hiệu. Thông qua đó, thay đổi dần thói quen tiêu dùng của người dân, thay đổi nhận thức của DN đối với thị trường trong nước. Ngoài hoạt động quảng bá, Sở Công Thương đã hỗ trợ DN trong việc điều tra khảo sát thị trường.

Cụ thể, Viện Nghiên cứu thương mại (Bộ Công Thương) phối hợp với các sở công thương 16 tỉnh, thành phố được lựa chọn gồm Lai Châu, Lạng Sơn, Yên Bái, Ninh Bình, Hà Nội... thực hiện đợt điều tra, khảo sát nhu cầu thị trường để từ đó giúp DN tạo dựng chỗ đứng lâu dài trên thị trường nhờ việc tiếp cận đúng đối tượng người sử dụng.

Từ đầu năm 2010, Bộ Công Thương cũng chỉ đạo các lực lượng quản lý thị trường cũng như các lực lượng chức năng các tỉnh, thành phố giám sát việc đưa hàng hoá về nông thôn tiêu thụ theo chính sách hỗ trợ lãi suất vốn vay của Chính phủ; đồng thời phát hiện và xử lý các hành vi lợi dụng chính sách kích cầu, khuyến khích tiêu dùng để tiêu thụ hàng nhập lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng, vi phạm sở hữu công nghiệp; ngăn chặn việc vận chuyển, kinh doanh hàng nhập lậu, hàng giả, nhằm bảo vệ sản xuất trong nước.

Qua các đợt đưa hàng về nông thôn, theo nhận định của Bộ Công Thương, hàng hoá trong nước đã tạo được dấu ấn với NTD trong nước; họ đã được tiếp cận trực tiếp với thương hiệu, DN Việt, có đủ thông tin để so sánh, tránh hàng giả, hàng nhái, hàng nhập lậu và tạo điều kiện cho hàng Việt phát triển.

Ông Trương Quang Hoài Nam - Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) - dẫn chứng: “Trước đây, theo kết quả điều tra tiến hành tại 16 nước Châu Á của Tập đoàn Grey Group (Mỹ), có đến 77% người tiêu dùng VN ưa chuộng các thương hiệu nước ngoài, tức là chỉ có 23% người tiêu dùng Việt ưa chuộng các thương hiệu trong nước. Nhưng mới đây, điều tra của Cty TV Plus thì chỉ sau 1 năm hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt” đến nay, đã có 58% người tiêu dùng VN quan tâm đến hàng Việt. Đây có thể ghi nhận là thành công bước đầu của cuộc vận động.

Vẫn còn riêng lẻ

Theo các ý kiến tại hội nghị sơ kết 1 năm thực hiện cuộc vận động, nhiều ý kiến các DN vẫn bày tỏ những quan ngại. Tâm lý sính hàng ngoại vẫn còn nặng nề trong tâm lý tiêu dùng của nhiều cơ quan, DN trong nước, nhất là khu vực hành chính công. C

hẳng hạn, việc mua sắm thiết bị y tế tại một số bệnh viện công được bà Đỗ Thuý Hương - Trưởng ban Kế hoạch - Đầu tư - TCty Điện tử tin học VN - nêu dẫn chứng, vẫn còn khó có “đất” cho sản phẩm sản xuất trong nước. Hiện TCty Điện tử- Tin học đã sản xuất được máy hút dịch chất lượng tương đương hàng ngoại nhập, nhưng rất khó len chân vào các bệnh viên công, vì họ đã nhập hàng của nước ngoài.

Nhìn nhận về những tồn tại của chương trình đưa hàng Việt về nông thôn, Thứ trưởng Bộ Công Thương- bà Hồ Thị Kim Thoa cho biết: Ở địa phương nào, các sở công thương chủ động xây dựng chương trình hành động cho địa phương thì địa phương đó làm tốt, tuy nhiên so với mặt bằng chung thì nhiều hoạt động tại các địa phương lại mang tính riêng lẻ, độc lập, thiếu sự gắn kết với các địa phương lân cận.

Một số hội chợ chưa thu hút được các DN có thương hiệu mạnh tham gia, chưa kết nối được giữa sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Nhiều hội chợ, triển lãm mới chỉ dừng ở trưng bày, giới thiệu sản phẩm, thuần túy, chưa tạo được ấn tượng về chất lượng qua thương hiệu sản phẩm. Nhiều DN xuất khẩu chưa thực sự chú trọng thị trường nội địa.

Bà Thoa khẳng định trong thời gian tới, bộ sẽ tiếp tục chỉ đạo các đơn vị thực hiện nghiêm túc việc ưu tiên sử dụng vật tư, hàng hoá sản xuất trong nước trong công tác đấu thầu các dự án sử dụng vốn nhà nước; tiếp tục triển khai cuộc vận động sâu rộng để tạo hiệu quả rõ rệt hơn nữa.
Theo Lao động

19 tháng 7, 2010

Hiểu - Tin Hàng Việt: Lập Lờ Thông Tin Nhãn Mác

Người tiêu dùng có quyền được biết đầy đủ thông tin về bản chất của sản phẩm để có sự lựa chọn chính xác nhất. Tuy nhiên, thực tế nhiều doanh nghiệp vẫn lập lờ trong ghi nhãn mác khiến người tiêu dùng ngộ nhận về sản phẩm.

Hiểu - tin hàng Việt: Lập lờ thông tin nhãn mác
Với những mặt hàng tươi sống, người mua cần lưu ý ngày đóng gói và hạn sử dụng - Ảnh: N.B.

Từ giữa tháng 7-2010, bao bì sữa hộp sản phẩm Dollac Gold của Công ty sữa Hancofood sẽ được thay bằng cụm từ “thực phẩm bổ sung sữa bột nhãn hiệu Dollac...”. Theo lý giải của ông Phạm Ngọc Châu, phó giám đốc Hancofood, trong hộp sữa này được bổ sung nhiều khoáng chất và vitamin nên cũng có thể xem như một dạng thực phẩm bổ sung. Tuy nhiên, ông Châu cho rằng sản phẩm này hoàn toàn không phải là thực phẩm chức năng.

Có một nói mười

Trên thị trường sữa nước hiện nay có ba sản phẩm chính là sữa tươi thanh trùng (100% là sữa tươi), sữa tươi tiệt trùng (99% là sữa tươi) và sữa hoàn nguyên tiệt trùng (được làm từ sữa bột pha trộn với nước). Thế nhưng, nhiều doanh nghiệp sữa đã lập lờ bỏ quên từ “hoàn nguyên” để quảng cáo là sữa tươi tiệt trùng và bán với mức giá cao hơn.

Hiện nay, vi phạm về quy định nhãn mác phổ biến nhất vẫn là trong lĩnh vực thực phẩm, sản phẩm dinh dưỡng với nhiều hình thức như quên ghi ngày tháng sản xuất, nơi sản xuất hay thành phần sản phẩm. Mục đích của các hành vi này chủ yếu nhằm gây hiểu sai bản chất sản phẩm để bán được giá cao.

Thị trường thời gian qua rầm rộ với cơn sốt mì sợi khoai tây của một nhãn hàng mì gói. Quảng cáo sợi mì làm từ bột khoai tây nên ăn không bị nóng, sản phẩm này nhanh chóng được ưa chuộng và tiêu thụ mạnh. Nhưng những người tiêu dùng tinh ý cho rằng với hàm lượng 10g/kg thì việc quảng cáo sợi mì làm từ khoai tây là không chính xác, rất dễ gây hiểu nhầm về bản chất sản phẩm.

“Chỉ có thể là sợi mì hương vị khoai tây! Và từng đó không đủ để làm giảm ăn mì không lo bị nóng!” - chị Huyền Trân (TP.HCM), một người tiêu dùng, nhận xét. Tương tự trên sản phẩm cháo ăn liền cá lóc của nhãn hàng V. được quảng cáo là cháo cá lóc, khi tìm hiểu thành phần trên nhãn chỉ có một lượng rất ít bột cá, còn loại cá nào thì người tiêu dùng không được cung cấp thông tin.

Một vi phạm khá phổ biến nữa là quên ghi nơi sản xuất mà chỉ ghi công ty chịu trách nhiệm sản phẩm. Ví dụ có rất nhiều sản phẩm nước mắm Nha Trang không ghi nơi sản xuất khiến người tiêu dùng không phân biệt được đâu là sản phẩm chính gốc. Trong khi thực tế rất nhiều sản phẩm nước mắm Nha Trang nhưng được sản xuất, đóng gói tại TP.HCM.

Theo bà Vũ Thị Bạch Nga, trưởng Ban bảo vệ người tiêu dùng, Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương), những hành vi được xem là viết không đúng bản chất thực của hàng hóa đó đều bị xem là vi phạm quy định nhãn hàng. Tuy nhiên, với lý giải cách này hay cách khác, nhà sản xuất luôn tìm cách lách cơ quan chức năng, đánh đố người tiêu dùng.

Tập thói quen đọc nhãn

Theo quy định nghị định số 89/2006/NĐ-CP, ghi nhãn hàng hóa là thể hiện nội dung cơ bản, cần thiết về hàng hóa lên nhãn hàng hóa để người tiêu dùng nhận biết, làm căn cứ lựa chọn, tiêu thụ và sử dụng; để nhà sản xuất, kinh doanh quảng bá cho hàng hóa của mình và để các cơ quan chức năng thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát.

Tuy nhiên, thực tế rất nhiều bà nội trợ cho biết họ hiếm khi đọc nhãn mác và hướng dẫn sử dụng của sản phẩm. Phần lớn lựa chọn một sản phẩm dựa vào thói quen hoặc sự bắt mắt của bao bì.

Bác sĩ Đào Thị Yến Phi, ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch, cho rằng người nội trợ cần phải biết các thông tin cần thiết về sản phẩm mình dự định mua: thông tin dinh dưỡng, hạn sử dụng... “Điều đó giúp chị em chọn lựa sản phẩm thích hợp cho các thành viên trong gia đình”, bác sĩ Yến Phi đưa ra lời khuyên.

Bà Vũ Thị Bạch Nga cho biết hiện nay việc lập lờ trên bao bì nhãn mác của nhà sản xuất hòng đánh lừa người tiêu dùng không chỉ xảy ra trên một vài sản phẩm. Ngay những sản phẩm điện máy, hàng điện tử nhà sản xuất cũng cố tình lập lờ để gây khó hiểu cho người tiêu dùng, như thương hiệu có tên giống Nhật nhưng thực chất sản xuất tại Trung Quốc hay hàng đặt gia công từ một nước khác...

“Doanh nghiệp cần minh bạch với người tiêu dùng trong công bố chất lượng hàng hóa. Bởi qua bài học từ vụ thiếu độ đạm trong sữa trước đây cho thấy người tiêu dùng sẵn sàng tẩy chay các sản phẩm mà thông tin không chính xác, còn nhà sản xuất phải mất rất nhiều thời gian mới gầy dựng lại lòng tin ở khách hàng”, bà Nga nói.

Dễ đánh đồng chất lượng sản phẩm

Bà Bùi Thị Hương, giám đốc đối ngoại Công ty cổ phần Sữa VN - Vinamilk, cho rằng tình trạng lập lờ trong nhãn mác của nhiều doanh nghiệp sản xuất không chỉ gây ngộ nhận cho người tiêu dùng, mà còn ảnh hưởng đến các doanh nghiệp làm ăn chân chính.

“Một khi thông tin không rõ ràng thì người tiêu dùng rất dễ đánh đồng chất lượng sản phẩm trên thị trường”, bà Hương nói. Vì vậy, khi chọn mua bất kỳ sản phẩm nào, người tiêu dùng cần đọc kỹ thành phần cụ thể ghi trên bao bì.

Theo quy định về ghi nhãn mác hàng hóa, các thành phần được thể hiện theo tỉ lệ từ thấp đến cao. Ví dụ đối với sản phẩm sữa thanh trùng của Vinamilk, đây là sản phẩm được chế biến từ nguyên liệu sữa bò tươi nguyên chất 100%, nên thành phần chính là sữa tươi sẽ ghi đầu tiên, sau đó mới đến các thành phần phụ khác như khoáng chất, vitamin...
Theo Tuổi trẻ

13 tháng 7, 2010

Cần Xây Dựng Thương Hiệu Cho Nông Sản - Sản Phẩm Làng Nghề

Phong phú, đa dạng nhưng nông sản và sản phẩm làng nghề khó tồn tại nếu không xây dựng được một thương hiệu. Trong khi, nông dân phải “tự bơi” - tự sản xuất và tiêu thụ. Hơn bao giờ hết, sự góp sức, chung tay của doanh nghiệp, Nhà nước ngay lúc này là rất cần thiết để nông dân có thể sống được với nghề nông, hồi sinh những làng nghề truyền thống…

Nhiều loại trái cây Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài nhưng trái cây nói chung vẫn khó tìm chỗ đứng ở thị trường nội địa do thiếu thương hiệu.

ĐUỐI SỨC...

Thời gian gần đây, một số mặt hàng nông sản đã khẳng định được vị trí của mình đối với thị trường trong và ngoài nước. Nhưng chỉ mới là số ít, chịu nhiều ràng buộc của các rào cản kỹ thuật. Đa số hàng nông sản vẫn lay hoay với điệp khúc mùa và giá, thiếu sức cạnh tranh. Nhà nông trở nên đuối sức khi cuộc chơi chỉ mới bắt đầu...

Theo thống kê của Bộ Công thương, kim ngạch nhập khẩu nông sản và thực phẩm năm 2009 là 1,5 tỉ USD. Trong những tháng đầu năm 2010, các mặt hàng nông sản, thực phẩm nhập khẩu tiếp tục tăng mạnh so với cùng kỳ. Trong đó, các chế phẩm từ ngũ cốc, tinh bột, sữa... tăng 99%; sản phẩm thịt, cá... tăng 79%. Điều ngạc nhiên là Việt Nam xuất khẩu gạo và nhiều loại rau màu nhưng kim ngạch nhập khẩu hai loại hàng này tăng lần lượt 152% và 127%. Trong số các mặt hàng rau, củ nhập khẩu, có đến 70% xuất xứ từ Trung Quốc. Một thống kê cho thấy, trong số 27 loại trái cây nhập khẩu từ Trung Quốc, có 4 loại trái (quýt, táo, cam, lê) chiếm tỷ trọng cao nhất với 87,5%. Trong khi, đây là những loại trái cây trồng nhiều ở Việt Nam, chất lượng tốt. Tại cửa khẩu Lào Cai, hàng ngày nông sản Trung Quốc lại ồ ạt nhập khẩu vào Việt Nam. Khi có những thông tin về sự không an toàn của các loại nông sản này, người tiêu dùng nội địa dè dặt với hàng Trung Quốc. Thế là, hàng ngoại được nhập khẩu và “nội hóa” bằng cách trộn bùn đất Đà Lạt vào rễ rau, củ và trộn lẫn vào nông sản nội địa để đưa vào các chợ đầu mối tung ra thị trường. Gần đây, các phương tiện truyền thông lại rộ lên chuyện mặt hàng chuối nhập khẩu từ Philippines được bày bán tại thị trường lớn trong nước với giá cao hơn hàng nội... Thỉnh thoảng lại có những thông tin về hàng nông sản, chủ yếu là trái cây Việt Nam ứ đọng tại các cửa khẩu phía Bắc do gặp “rắc rối” khi đưa hàng vào Trung Quốc...

Giải thích về hiện tượng này, ông Hoàng Trọng, chuyên gia thị trường-Trung tâm nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA), cho biết: “Một điều phải công nhận là nông sản Việt Nam không thua kém nông sản nhiều nước trên thế giới về chất lượng. Nông dân vốn rất năng động cho cây ra trái quanh năm, nghịch mùa để tăng giá trị. Nhưng phần lớn nông sản không có thương hiệu nên khó tìm chỗ đứng trên thị trường, ngay cả trên “sân nhà”, nhất là ở những đô thị lớn. Bốn yếu tố (chất lượng không ổn định, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, mẫu mã không đồng đều, bao bì kém chất lượng) là nguyên nhân chính khiến nông sản Việt Nam chậm thay đổi, khó thâm nhập thị trường. Khâu truyền thông cho sản phẩm còn rất hạn chế. Đó là chưa kể đến quy mô sản xuất nhỏ lẻ, công nghệ bảo quản sau thu hoạch kém... dẫn đến nông sản thiếu sức sống trên thị trường, làm giảm khả năng cạnh tranh. Hiện nay, luật pháp Việt Nam thiếu những rào cản kỹ thuật nên việc nhập khẩu hàng nông sản khá dễ dàng”. Vì thế, chất lượng hàng hóa và tính an toàn thực phẩm của hàng nông sản nhập khẩu gần như bị bỏ ngỏ. Hàng hóa dội chợ dẫn đến rớt giá, nông sản của nhà nông trong nước càng mất khả năng “đề kháng” nên dễ “kiệt sức”.

ĐỒNG HÀNH

Thương hiệu chính là vấn đề sống còn cho nông sản và sản phẩm làng nghề trong nước. Để có thương hiệu tốt, phải có sản phẩm tốt. Các chuyên gia cho rằng, thị trường đòi hỏi sự thích ứng của nhà sản xuất. Người tiêu dùng luôn quan tâm đến chất lượng, chủ loại, sự tiện lợi, yếu tố sức khỏe... Điều này được quyết định bởi khoa học kỹ thuật và ứng dụng các tiêu chuẩn an toàn trong sản xuất nông sản. Tuy nhiên, hiện nay nông dân nhiều nơi ở ĐBSCL có hiện tượng “sợ” Global GAP (tiêu chuẩn toàn cầu về chất lượng, an toàn và truy nguyên được nguồn gốc). Sản xuất theo quy trình này đòi hỏi người dân phải chăm chút hơn nhưng khi thu hoạch thì “bán xô” với sản phẩm cùng loại được sản xuất theo phương thức truyền thống. Một số nhà vườn xoài cát Hòa Lộc, vúa sữa Lò Rèn, bưởi Năm Roi... dọa sẽ “chia tay” với GAP. “Nguồn nhân lực là vấn đề khó đối với sản xuất nông nghiệp hiện nay. Nông dân muốn nâng cao giá trị sản phẩm và có sự cầu tiến cao nhưng không có lớp nông dân trẻ được đào tạo bài bản về xây dựng các mô hình mới trên mảnh vườn, thửa ruộng của mình mà lại có xu hướng ly nông. Khi mở lớp đào tạo nghề cho nông thôn, chúng tôi muốn mở những nghề liên quan đến nông nghiệp nhưng không tuyển sinh được. Cuối cùng phải mở những ngành có nhiều học viên đăng ký. Ngành liên quan đến nông nghiệp lại bỏ trống trong khi lao động nông nghiệp thiếu nguồn nhân lực qua đào tạo...”, ông Đỗ Minh Triết, PGĐ Sở LĐ-TB&XH tỉnh Đồng Tháp, cho biết. Đây cũng là xu hướng chung của vùng nông thôn. Bởi vì nông nghiệp không có sức hút đối với giới trẻ do hiệu quả kinh tế không cao. Các chuyên gia cho rằng, giáo dục lòng yêu nghề nông đối với người trẻ phải bằng kỹ thuật mới và hiệu quả. Tức là xây dựng thế hệ nông dân mới, gắn bó với nghề nông và xây dựng nông thôn mới.

Nông dân trước nay chỉ quen sản xuất rồi giao cho thương lái, nhà vựa quyết định thị trường chứ chưa tham gia suốt chuỗi giá trị nông sản. Thương hiệu bị bỏ quên cho đến khi phải đối diện với nông sản nhập khẩu. Bắt tay vào xây dựng thương hiệu là điều không dễ dàng đối với người dân. Hơn bao giờ hết, nông sản Việt Nam rất cần sự đồng hành của doanh nghiệp và hỗ trợ của Nhà nước để xây dựng thương hiệu mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Chương trình xúc tiến thương mại thị trường trong nước của Bộ Công thương giai đoạn 2009-2010 đã khẳng định được những hiệu quả bước đầu cho nông sản Việt Nam. Đi cùng với chương trình này, tháng 7-2009, siêu thị Sài Gòn Tiếp Thị (SGTT Mart) ra đời chuyên bán hàng đặc sản là một kênh tiếp thị, tiêu thụ nông sản và sản phẩm làng nghề vùng nông thôn. Dự kiến, đến cuối năm 2010, hệ thống siêu thị này sẽ phát triển thêm nhiều chi nhánh để đưa nông đặc sản đến tay người tiêu dùng thành thị. Đại diện SGTT Mart, bà Phương Dung cho biết: “Hoạt động của SGTT Mart không chỉ là quảng bá và bán hàng mà còn quan tâm đến người sản xuất. Chúng tôi thường xuyên bổ sung các sản phẩm làng nghề, đặc sản địa phương vào danh mục hỗ trợ phát triển và đưa vào phân phối trong hệ thống...”. Từ đó, các làng nghề truyền thống ở An Giang, Bến Tre, Long An, Đồng Nai, Quảng Ngãi... đã được hỗ trợ phát triển sản phẩm truyền thống thành vùng nguyên liệu cung cấp cho hệ thống siêu thị. Hàng loạt đặc sản khắp mọi miền đất nước có được thương hiệu riêng, đăng ký sở hữu độc quyền... Ngoài ra, còn các chương trình hướng đến cộng đồng sản xuất nhằm xây dựng và phát triển nông đặc sản và sản phẩm làng nghề thỏa mãn tiêu chuẩn hàng hóa theo thị trường quốc tế. Trong đó, ưu tiên xây dựng quy trình sản xuất an toàn, đăng ký tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa và nhãn hiệu hàng hóa, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường... nâng giá trị nông sản vùng nông thôn, thích ứng với thị trường...
Theo báo Cần Thơ

8 tháng 7, 2010

Hội Chợ Phú Yên 2010: Góp Phần Tạo Thói Quen Dùng Hàng Việt

Lần đầu tiên, Hội chợ Thương mại Phú Yên gắn với chủ đề “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”...

Hội chợ Thương mại Phú Yên 2010: Góp phần tạo thói quen dùng hàng Việt
Quảng bá thương hiệu tại hội chợ Thương mại Phú Yên 2010 – Ảnh: M.NGUYỆT

Toàn hàng Việt Nam

Hội chợ có hơn 200 gian hàng của khoảng 120 đơn vị trong, ngoài tỉnh tham gia. Các sản phẩm trưng bày tại hội chợ khá phong phú như hàng dệt may, dược phẩm, thực phẩm chế biến, thiết bị phục vụ đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, gỗ gia dụng, thủ công mỹ nghệ, hàng trang trí nội thất, giống cây trồng, vật tư nông nghiệp… và tất cả đều là hàng Việt. Nhờ không tính chi phí thuê mặt bằng, lưu kho nên giá hàng hóa bán tại đây giảm từ 10 - 30%. Trong những ngày diễn ra hội chợ, đã có rất đông người đến tham quan, mua sắm. Anh Võ Văn Trường ở phường 4 (TP Tuy Hòa) cho biết: “Lúc đầu, cả nhà tôi tính không đI, nhưng rồi biết đây là lần đầu tiên tỉnh tổ chức hội chợ gắn với tuyên truyền sử dụng hàng Việt Nam nên mọi người quyết định đi xem thử có gì khác với những năm trước”. Chị Nguyễn Thị Thanh Thúy ở xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa nói: “Lúc trước, tôi rất chuộng hàng ngoại nên một khi đã thích, dù hàng có đắt mấy tôi cũng mua. Sau này, qua các phương tiện truyền thông cũng như qua thực tế sử dụng, tôi nhận thấy hàng Việt không hề thua kém hàng ngoại. Do vậy tôi hoàn toàn yên tâm khi mua hàng Việt tại hội chợ”.

Thu hút khách đông nhất là các sản phẩm của Công ty Dệt Thành Công (Kon Tum), với khăn quàng cổ, áo choàng tắm, váy jean, quần bó được thiết kế phối hợp với vải lụa đa sắc đem lại sự nổi bật và tươi mới cho người mặc. Công ty Phước Thịnh (Đồng Nai) giới thiệu các sản phẩm mới như bougie tiết kiệm xăng trong xe máy, sản phẩm tiết kiệm điện, các thiết bị vệ sinh cảm ứng tự động. Dòng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón mới ra lò của Công ty An Nông (Long An) cũng gây được sự chú ý đối với khách hàng là bà con nông dân… Ngoài ra, ngành thương mại du lịch các tỉnh Kon Tum, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Ninh Thuận và Tây Ninh cũng mang đến hội chợ các mặt hàng chủ lực của địa phương mình như muối tôm Tây Ninh, mắm tôm Huế, thanh long Ninh Thuận, kẹo hạt điều, kẹo chuối miền Tây… góp phần làm cho hàng hóa ở hội chợ thêm đa dạng và phong phú.

Tạo sức bật cho doanh nghiệp địa phương

Tham gia hội chợ năm nay, Phú Yên có những gian hàng trưng bày sản phẩm của các làng nghề truyền thống như bánh tráng Phú Yên, hàng trang trí nội thất từ đá granit, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được sản xuất từ gỗ, vỏ hải sản, đất sét, vỏ dừa… Theo các doanh nghiệp, mặc dù các sản phẩm được tiêu thụ không nhiều, lợi nhuận không cao nhưng thông qua hội chợ, nhiều doanh nghiệp trong tỉnh đã quảng bá tên tuổi, gây dựng thương hiệu và tiến tới ký kết những hợp đồng làm ăn lớn. Các doanh nghiệp chế biến, sản xuất hàng tiêu dùng như gỗ Xuân Phước, Cơ sở sản xuất giày dép Hoàng Gia Đăng, Cơ sở sản xuất ốc mỹ nghệ Đông Nghiệp, Doanh nghiệp Bình SVC… đều trình làng những sản phẩm độc đáo, mới lạ, được đông đảo người tiêu dùng quan tâm chọn mua. Các sản phẩm gương soi, trang trí nội thất, hàng lưu niệm, mỹ nghệ của Công ty Kim Tân (huyện Đông Hòa) cũng làm cho nhiều khách hàng dừng chân ngắm nhìn. Hội chợ năm nay vắng bóng các sản phẩm có nguồn gốc từ nước ngoài nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Phú Yên có cơ hội phát triển các hoạt động thương mại của mình.

Cơ sở sản xuất dày dép Hoàng Gia Đăng ở xã Hòa Tân Tây (huyện Tây Hòa) là doanh nghiệp bán được nhiều hàng nhất trong hội chợ. Cơ sở này do anh Bùi Văn Trí, một người khuyết tật, thành lập, đã góp phần tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Tây Hòa. Trung bình mỗi tháng, cơ sở này sản xuất gần 2.000 đôi giày dép, túi xách. Sản phẩm làm đến đâu đều được tiêu thụ hết. Theo anh Trí, hội chợ lần này là cơ hội để cơ sở sản xuất của anh giới thiệu sản phẩm mới, quảng bá “thương hiệu” cũng như tìm kiếm đầu ra ổn định, lâu dài.

Theo Sở Công Thương Phú Yên, hội chợ lần này nhằm đẩy mạnh việc tuyên truyền, tạo ý thức và thói quen cho người tiêu dùng thường xuyên sử dụng hàng Việt chất lượng cao. Ngoài ra, hội chợ cũng là dịp đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, giao lưu kinh tế và mời gọi hợp tác đầu tư. Đây cũng là dịp để các nhà sản xuất, kinh doanh hàng Việt có điều kiện tiếp xúc với người tiêu dùng, khẳng định uy tín và thương hiệu của mình trên thị trường.

Theo ông Huỳnh Công Điềm, Giám đốc Trung tâm Khuyến công Phú Yên, hội chợ năm nay gắn với cuộc vận động “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” nên ban tổ chức rất khắt khe trong việc lựa chọn doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí nhằm đảm bảo các sản phẩm bày bán đều có chất lượng cao. Hội chợ năm nay không chỉ lớn về quy mô tổ chức, chất lượng sản phẩm mà còn tăng về lượng sản phẩm tiêu thụ và lượng người mua sắm. Đây chính là hiệu quả trong thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”, góp phần phát triển thương mại cho các doanh nghiệp trong tỉnh.
Theo Báo Phú Yên

5 tháng 7, 2010

Hàng Việt Nhìn Từ Cái Áo Sơmi Nam

Chỉ từ một năm trở lại đây, các công ty may trong nước đã triển khai trên 220 cửa hàng thời trang công sở cho nam giới, với đủ các tên tuổi Việt Tiến, Nhà Bè, An Phước, Việt Tây, Khánh Việt… Dự kiến đến hết năm 2010, 80 cửa hàng mới nữa sẽ tiếp tục được mở.

Sản phẩm hàng dệt may cao cấp của Việt Nam bày bán trong một khu thương mại. Ảnh: Lê Quang Nhật

Giành thị phần bằng cửa hàng

Nhãn hiệu Mattana của công ty may Nhà Bè đang dẫn đầu về tốc độ phát triển với 100 cửa hàng trong hơn một năm. Nhãn hiệu Việt Long của công ty Việt Tiến trong sáu tháng có hơn 30 cửa hàng đại lý. Nếu tính cả hệ thống trên 500 cửa hàng mang thương hiệu Việt Tiến và 22 cửa hàng có nhãn Sanciaro – Manhattan thì Việt Tiến là đơn vị đang dẫn đầu về mạng lưới phân phối.

Công ty An Phước, theo kế hoạch “hiệu ứng thị giác” mở cửa hàng để tăng sự nhận diện của khách, cũng tăng tốc độ mở cửa hàng từ 3 – 4 điểm bán mới/năm lên trên 10 điểm bán mới/năm, và đến nay đã có 79 cửa hàng.

Nhãn hiệu Khatoco của công ty Khánh Việt bắt đầu kế hoạch vươn từ phân khúc thấp lên hàng trung và khá bằng việc khai trương bốn cửa hàng mới và dự kiến sẽ mở đến 50 cửa hàng chuyên bán thời trang công sở cho nam giới trên cả nước. Nhãn Việt Tây của công ty Việt Tây mới ra đời vào cuối năm 2009 cũng đã mở được năm cửa hàng ở TP.HCM và dự kiến mở tiếp mười cửa hàng nữa ở các quận xa trung tâm...

Nhìn ở bề nổi có thể thấy các doanh nghiệp Việt Nam gần như chiếm lĩnh thị phần thời trang công sở nam giới với mạng lưới bán hàng phủ khắp từ đường phố đến siêu thị, trung tâm thương mại, dãy sản phẩm rộng từ mức giá thấp dưới 150.000 đồng/chiếc sơmi cho đến trên 1 triệu đồng. Việc các nhãn hiệu sơmi Việt Nam có mặt trong các trung tâm thương mại cao cấp bên cạnh hàng hiệu nhập từ nước ngoài ở Parkson, Vincom, Zen Plaza… là một trong những biểu hiện cho thấy sự phát triển khá tốt của hàng nội địa.

Tính toán lợi thế để cạnh tranh

Hiện các công ty Việt Nam đang rất tự tin để tung ra thị trường những bộ âu phục công sở nam giới đạt chất lượng cao. Mỗi doanh nghiệp theo đó cũng tính toán lợi thế riêng để cạnh tranh trên sân nhà.

Ông Trần Hữu An, trưởng phòng kinh doanh dệt may công ty Khánh Việt nói: “Khatoco có thể tự dệt những mẫu hoa văn theo thiết kế riêng, có lợi thế về tài chính để mua nguyên phụ liệu với giá tốt, có mạng lưới chi nhánh trên toàn quốc và đội ngũ xe đảm bảo nguồn cung hàng hoá cho các đại lý nhanh chóng”.

Trong khi đó, theo ông Lê Mạc Thuấn, phó tổng giám đốc công ty may Nhà Bè thì chiếc sơmi Mattana sẽ thể hiện sự khác biệt với các sản phẩm công ty khác bằng kỹ thuật và công nghệ sản xuất của Nhật, đường nét tinh tế hơn công nghệ Âu Mỹ...

Dịch vụ chưa tốt

Hầu hết các công ty đều thiếu sự chăm chút cho dịch vụ. Khách mua sơmi trong siêu thị khó chọn hàng vì không đủ màu sắc và kiểu dáng, một số mã hàng không đủ cỡ. Ở các đại lý thì lẫn lộn giữa hàng chất lượng cao và hàng chợ thì người bán khuyến khích khách mua hàng chợ để có lợi nhuận cao hơn. Tính hệ thống của các doanh nghiệp chỉ mới dừng ở hình thức, một công ty có cả trăm điểm bán khác nhau, nhưng mua hàng chỗ nào muốn đổi cỡ phải quay trở lại đúng nơi đã bán hàng.

Tuy hầu hết các công ty đều đạt được nền tảng cơ bản để xây dựng thương hiệu là đầu tư để làm ra những sản phẩm tốt nhưng để xây dựng thương hiệu thời trang cao cấp thì vẫn chưa đủ. Ông Đinh Tiến Na, quản lý thương hiệu Sanciaro của công ty may Việt Tiến nhìn nhận: “Sản phẩm tốt vẫn chưa nói được điều gì. Sản phẩm cao cấp cỡ nào cũng phụ thuộc vào chất lượng hệ thống từ dịch vụ bán hàng, hình ảnh và thiết kế cửa hàng, nhân viên bán hàng, không khí nơi khách hàng mua sắm…”

Ngay cả An Phước, thương hiệu được đánh giá là đã đạt được thành công nhất định trong lĩnh vực thời trang công sở cho nam giới, thì theo bà Nguyễn Thị Điềm, chủ doanh nghiệp may An Phước: “Chất lượng sản phẩm phải bao gồm cả từng chi tiết nhỏ nhất trong sản phẩm, đến hình thức bên ngoài… mới chỉ là nền cơ bản để khách không chê, còn khách thích và quay lại mua lần sau, rồi tiến đến quyết định chọn mua thường xuyên, mua để làm quà tặng người khác… phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng dịch vụ từ bán hàng đến hậu mãi do từng nhân viên An Phước thực hiện”.

Hầu hết các công ty đầu tư để làm ra những sản phẩm tốt, nhưng để xây dựng thương hiệu thời trang cao cấp thì vẫn chưa đủ.

Theo công ty tư vấn The Pathfinder, tiêu dùng hàng may mặc thời trang của người Việt Nam hiện tại đạt mức khoảng 420.000 đồng/người/năm. Trung bình trong năm 2010, người dân thành thị sẽ chi trung bình 1.400.000 đồng/người/năm và người dân nông thôn chi trung bình 140.000 đồng/người/năm. Riêng thị phần quần áo thời trang cho nam giới ước tính vào khoảng 8.600 tỉ đồng/năm.
Theo SGTT